Trung tâm đổi mới sáng tạo Công nghiệp 4.0 (IIC) thuộc Trường Quốc tế Miền Đông (Eastern International University). Ảnh minh họa: TTXVN
Từ chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại phiên họp mới đây về khoa học cơ bản, nhiều nhà khoa học cho rằng, đây là thời điểm cần có những cơ chế mạnh mẽ hơn để nuôi dưỡng đam mê nghiên cứu, xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao và khẳng định vai trò của khoa học cơ bản trong chiến lược phát triển đất nước.
Hướng tới chất lượng, giá trị và uy tín học thuật thực chất
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thị Thanh Nhàn, Viện Toán học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã chia sẻ thẳng thắn, nhiều trải nghiệm về hành trình thay đổi tư duy nghiên cứu khoa học ở Việt Nam suốt hơn hai thập niên qua. Theo bà, nếu trước đây công bố quốc tế từng là điều “xa xỉ” ở các trường đại học thì nay khoa học Việt Nam đang bước sang một giai đoạn mới: không còn chạy theo số lượng mà phải hướng tới chất lượng, giá trị và uy tín học thuật thực chất.
Giáo sư Lê Thị Thanh Nhàn cho rằng, công bố quốc tế hiện không chỉ là yêu cầu chuyên môn mà đã trở thành nhiệm vụ chiến lược được Nhà nước và các cơ sở giáo dục đại học đặc biệt quan tâm. Nhân tố quyết định thành công của chiến lược này chính là các nhóm nghiên cứu và đội ngũ nhà khoa học. Tuy nhiên, việc đánh giá nghiên cứu khoa học không thể áp dụng một “thước đo vạn năng” cho mọi lĩnh vực. Mỗi ngành nghề có đặc thù và văn hóa học thuật khác nhau, từ khoa học cơ bản, kỹ thuật đến khoa học xã hội và nhân văn.
Nhìn lại chặng đường phát triển của nghiên cứu khoa học trong trường đại học Việt Nam, Giáo sư Lê Thị Thanh Nhàn chia sẻ: Trước năm 2005, nghiên cứu khoa học ở nhiều cơ sở giáo dục đại học còn khá mờ nhạt, chủ yếu tập trung tại các viện nghiên cứu lớn. Công bố quốc tế gần như chưa được xem là tiêu chí đánh giá giảng viên hay thi đua học thuật.
Kể lại câu chuyện bản thân công bố bài báo trên tạp chí của Hội Toán học Mỹ năm 2002 nhưng hầu như không nhận được sự quan tâm từ môi trường làm việc lúc bấy giờ, Giáo sư tâm sự: “Nhà khoa học ở các trường địa phương khi ấy rất cô đơn, làm nghiên cứu chủ yếu vì đam mê chứ không có cơ chế khuyến khích hay hỗ trợ”.
Bước sang giai đoạn từ năm 2005-2025 là giai đoạn chứng kiến sự chuyển biến mạnh mẽ, theo Giáo sư Lê Thị Thanh Nhàn, công bố quốc tế dần trở thành tiêu chí quan trọng trong đánh giá giảng viên, đào tạo tiến sĩ và xét chức danh giáo sư, phó giáo sư. Hàng loạt bộ chỉ số như ISI, SCIE, Scopus, Q1-Q4 hay Impact Factor bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong môi trường học thuật. Sự ra đời của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) năm 2008 là một dấu mốc quan trọng đối với giới nghiên cứu cơ bản. Việc lựa chọn các nhà khoa học tham gia hội đồng khoa học dựa trên công bố quốc tế gần nhất được xem là bước tiến mới trong đánh giá năng lực nghiên cứu. Thời điểm đó, bài báo quốc tế được xem như chuẩn mực cao nhất trong giới học thuật.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khi nghiên cứu khoa học và hội nhập quốc tế phát triển mạnh hơn, Giáo sư Lê Thị Thanh Nhàn cho rằng, việc chỉ chạy theo số lượng công bố hay các chỉ số định lượng không còn phù hợp. Giai đoạn từ năm 2026 trở đi, nghiên cứu khoa học cần đặt trọng tâm vào chất lượng, giá trị học thuật và đóng góp thực chất của công trình nghiên cứu đối với uy tín khoa học của Việt Nam trên trường quốc tế.
“Không còn là thời nhà tranh nữa, bây giờ phải là nhà đẹp, chất lượng cuộc sống phải nâng lên. Khoa học cũng vậy, cần nâng tầm uy tín Việt Nam chứ không chỉ là số lượng bài báo”, Giáo sư Lê Thị Thanh Nhàn nhấn mạnh.
Nhiều nhà khoa học quốc tế hiện không còn quá quan tâm đến việc tạp chí thuộc Q1 hay Q2, mà chú trọng nhiều hơn vào giá trị thật sự của công trình và mức độ phù hợp với tạp chí chuyên ngành. Ở môi trường học thuật phát triển, các nhà khoa học “nhìn tạp chí là biết chất lượng”, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào các chỉ số. Vì vậy, Giáo sư Lê Thị Thanh Nhàn mong muốn, các nhà khoa học cùng trao đổi để tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng công bố quốc tế theo hướng thực chất hơn, qua đó góp phần xây dựng vị thế khoa học Việt Nam trên bản đồ học thuật thế giới.
Tạo sức hút để người học theo đuổi các ngành khoa học cơ bản
Trong những năm qua, các ngành khoa học cơ bản rơi vào tình trạng khó tuyển sinh dù điểm xét tuyển đầu vào không cao và học phí ở mức thấp nhất trong các ngành đào tạo. Các trường đại học vẫn nỗ lực tuyên truyền về nhu cầu lao động, các chế độ khuyến khích sinh viên khi học tại trường nhưng hiệu quả chưa như mong đợi.
Theo báo cáo tổng kết công tác tuyển sinh hàng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo, khối ngành Khoa học tự nhiên và Khoa học sự sống luôn nằm trong nhóm có tỷ lệ tuyển sinh thấp nhất. Trong khi đó, đây là những ngành gắn trực tiếp với các bài toán quốc gia như: biến đổi khí hậu, sạt lở, ngập lụt đô thị, tài nguyên nước, vật liệu mới, chuyển dịch năng lượng, khai thác khoáng sản chiến lược, địa chất công trình cho hạ tầng lớn. Tuy nhiên, sinh viên giỏi thường có xu hướng chọn các ngành Công nghệ thông tin, Kinh tế vì các ngành này mang lại thu nhập cao và môi trường làm việc bớt khắc nghiệt hơn.
Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 179/2026/NĐ-CP ngày 20/5/2026, quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược; có hiệu lực thi hành từ 15/7/2026. Đây được coi là động thái tích cực, thay đổi tư duy đầu tư cho khoa học cơ bản.
Điểm đặc biệt của Nghị định 179 là chính sách học bổng được áp dụng cho toàn bộ các bậc đào tạo trong giáo dục đại học, từ đại học đến thạc sĩ và tiến sĩ. Mức hỗ trợ dao động từ hơn 3 triệu đồng đến trên 8 triệu đồng/tháng không chỉ giúp người học giảm gánh nặng tài chính mà còn tạo động lực để theo đuổi các ngành kỹ thuật vốn có đặc thù học tập khó, yêu cầu cao.
Phó Giáo sư - Tiến sĩ Ngô Tứ Thành, Viện Công nghệ thông tin (Học viện Phụ nữ Việt Nam) cho rằng: Việc Nhà nước hỗ trợ học bổng trực tiếp, mức cao nhất lên tới 8,4 triệu đồng/tháng cho nghiên cứu sinh và duy trì hỗ trợ trong nhiều năm đã phát đi tín hiệu chiến lược, khoa học cơ bản không còn bị xem là lĩnh vực “ít giá trị kinh tế”, mà chính là nền tảng của AI, bán dẫn và các công nghệ lõi. Đồng thời, việc ưu tiên hỗ trợ học sinh đạt giải quốc gia, quốc tế, sinh viên tài năng và người học có thành tích xuất sắc có thể khiến nhiều học sinh thay đổi định hướng, mạnh dạn lựa chọn các ngành khoa học, kỹ thuật thay vì tập trung vào các lĩnh vực kinh tế hay tài chính như trước đây.
Theo Phó Giáo sư - Tiến sĩ Ngô Tứ Thành, ý nghĩa của Nghị định 179 không chỉ dừng ở một chính sách học bổng mà còn thể hiện bước chuyển quan trọng từ tư duy “đào tạo đại trà” sang “đầu tư nhân tài khoa học công nghệ chiến lược”. Nếu được triển khai hiệu quả, Nghị định có thể góp phần hình thành đội ngũ kỹ sư, nhà khoa học mới cho Việt Nam trong 10-20 năm tới, tương tự cách Hàn Quốc và Trung Quốc từng đầu tư mạnh cho STEM và công nghiệp bán dẫn.
Bên cạnh chính sách học bổng của Chính phủ, Giáo sư - Tiến sĩ khoa học Bùi Văn Ga, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng, để có nguồn đầu vào tốt cho các trường đại học, các địa phương cũng cần tập trung nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông. Giáo dục STEM, STEAM cần được phổ cập ở các cấp độ khác nhau trong trường phổ thông; cần tập cho học sinh có phương pháp tư duy, đam mê khoa học ngay từ nhỏ để nuôi dưỡng nguồn tuyển sinh chất lượng cao cho các trường đại học. Những nơi có điều kiện nên tổ chức cho học sinh học 2 buổi/ngày, ngoài chương trình sách giáo khoa chuẩn, cần tăng cường kiến thức số, trí tuệ nhân tạo và hoạt động nghiên cứu khoa học để phát triển năng lực tư duy từ sớm.
Như vậy, để khoa học cơ bản thực sự trở thành “gốc rễ” cho đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững, Việt Nam cần một hệ sinh thái đồng bộ từ cơ chế tài chính, môi trường nghiên cứu đến chính sách trọng dụng nhân tài. Khi các trường đại học được trao thêm điều kiện và niềm tin để đầu tư cho khoa học cơ bản, đó không chỉ là đầu tư cho tri thức hôm nay mà còn là sự chuẩn bị cho năng lực cạnh tranh của đất nước trong tương lai.