Đoàn Chủ tịch chủ trì hội nghị.
Luật Bình đẳng giới được Quốc hội thông qua năm 2006 là đạo luật đầu tiên của nước ta quy định một cách toàn diện về bình đẳng giới, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để thúc đẩy sự tham gia bình đẳng của phụ nữ và nam giới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; góp phần thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam về quyền con người, quyền của phụ nữ và bình đẳng giới.
Phát biểu tại hội nghị, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Nguyễn Thị Minh Hương nhấn mạnh: Với chức năng đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, đồng thời thực hiện nhiệm vụ giám sát, phản biện xã hội theo quy định của Đảng và Nhà nước, Trung ương Hội luôn xác định tham gia xây dựng pháp luật là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm. Việc sửa đổi Luật Bình đẳng giới lần này không chỉ điều chỉnh các chính sách lớn mà còn rà soát, hoàn thiện các quy định về tổ chức bộ máy, phân công, phân cấp và phân quyền.
Tại hội nghị, các chuyên gia, nhà khoa học cùng đại diện cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên và địa phương đã tập trung đánh giá khách quan thực tiễn thi hành các Luật. Các đại biểu thảo luận sôi nổi về nội dung sửa đổi Luật Bình đẳng giới trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động, Luật Lưu trữ, Luật Bình đẳng giới và Luật Hoạt động Chữ thập đỏ; đồng thời làm rõ vai trò cốt lõi của Mặt trận Tổ quốc và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong quản lý nhà nước, giám sát và phản biện xã hội. Từ thực tiễn đó, hội nghị đã đề xuất nhiều cơ chế, chính sách thiết thực nhằm nâng cao tính khả thi của luật sau khi ban hành, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và công tác bình đẳng giới trong giai đoạn mới.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Mai Hoa, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội khóa XV cho biết, sau 20 năm, Luật Bình đẳng giới 2006 ghi nhận bước tiến quan trọng trong lập pháp, chuyển từ bình đẳng hình thức sang thực chất (như bổ sung quy định thai sản, chống quấy rối ở Bộ luật Lao động 2019; nâng tỷ lệ ứng viên nữ tối thiểu 35% ở Luật Bầu cử). Tuy nhiên, quá trình thực thi luật vẫn tồn tại hạn chế như tư duy “trung lập giới”, lồng ghép giới còn hình thức, thiếu số liệu phân tách và nhân sự chuyên môn, cùng khoảng cách lớn giữa luật định và thực tiễn. Đối với Luật sửa đổi sắp tới, Tiến sĩ Nguyễn Thị Mai Hoa kiến nghị bổ sung nguyên tắc "bảo đảm bình đẳng giới" đồng bộ với Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 2025; giữ chế độ báo cáo hằng năm thay vì 2 năm/lần; và làm rõ thẩm quyền ban hành Bộ chỉ tiêu thống kê giới của Bộ Nội vụ. Về lâu dài, cần sửa đổi toàn diện Luật năm 2006, mở rộng khái niệm phân biệt đối xử gián tiếp và quy định rõ trách nhiệm pháp lý.
Tiến sĩ Đàm Thị Vân Thoa, Phó Trưởng Ban Dân chủ, Giám sát và Phản biện xã hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhấn mạnh: Mặt trận Tổ quốc và tổ chức thành viên Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam giữ vai trò nòng cốt trong quản lý nhà nước về bình đẳng giới bình đẳng giới thông qua 3 phương thức: tham gia trực tiếp (xây dựng luật, bầu cử, dân chủ cơ sở), phối hợp hành động và giám sát, phản biện xã hội. Tuy nhiên, Dự thảo Luật sửa đổi gần đây dự kiến bỏ quy định trách nhiệm “tham gia quản lý nhà nước về bình đẳng giới” của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên để bảo đảm đồng bộ với Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tiến sĩ Đàm Thị Vân Thoa đề nghị giữ vững vai trò tham gia quản lý nhà nước, đồng thời bổ sung cụ thể cơ chế, cách thức thực hiện phản biện xã hội và trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong quá trình lồng ghép giới khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Quang cảnh hội nghị.
Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về bình đẳng giới tại địa phương, theo ông Huỳnh Mạnh Thắng, Phó Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Khánh Hòa, tính đến tháng 12/2025, địa phương đã triển khai hiệu quả Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới với 15/19 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch. Kết quả nổi bật là tỷ lệ lãnh đạo chủ chốt nữ cấp tỉnh đạt 71,4% và cấp xã đạt 63,07% (41/65 đơn vị). Tuy nhiên, toàn tỉnh còn 4 chỉ tiêu chưa đạt, bao gồm tỷ lệ lao động nữ làm công hưởng lương (44,7%), tỷ lệ nữ thạc sĩ (39,6%), nữ tiến sĩ (25%) và tỷ suất sinh ở vị thành niên (29,2/1.000 phụ nữ).
Sở Nội vụ đề xuất cần điều chỉnh các chỉ tiêu giai đoạn 2026-2030 cho phù hợp với thực tiễn các địa phương sau sáp nhập, đẩy mạnh cơ sở dữ liệu số về giới, hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nữ nông thôn và xem xét chính sách kinh phí trợ cấp cho đội ngũ cán bộ phụ trách công tác bình đẳng giới ở cấp xã, thôn, tổ dân phố.
Các ý kiến phát biểu được Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổng hợp đầy đủ, nghiên cứu, tiếp thu để hoàn thiện Báo cáo phản biện xã hội gửi cơ quan chủ trì soạn thảo và các cơ quan có thẩm quyền xem xét trong quá trình hoàn thiện dự án Luật. Từ đó, Luật Bình đẳng giới thực sự trở thành công cụ pháp lý hiệu quả trong bảo đảm quyền con người, thúc đẩy bình đẳng giới và phát huy tiềm năng của cả phụ nữ và nam giới trong sự nghiệp phát triển đất nước.