Đại sứ Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN (ảnh tư liệu).
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng đã định ra tầm nhìn chiến lược mới về công tác đối ngoại không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền mà phải trực tiếp kiến tạo năng lực phát triển quốc gia. Và để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đó, Đảng yêu cầu đề cao kỷ luật thực thi, thực hiện kiểm tra, giám sát thường xuyên việc triển khai Nghị quyết.
Nhìn nhận sâu sắc từ góc độ hệ thống chủ trương, chính sách, Đại sứ Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nhấn mạnh Nghị quyết số 06 không tồn tại độc lập mà nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với Nghị quyết số 59 về hội nhập quốc tế cùng các nghị quyết chiến lược khác của Đảng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và thu hút đầu tư nước ngoài. “Tất cả tạo thành một chỉnh thể thống nhất, trong đó đối ngoại và hội nhập quốc tế giữ vai trò kết nối, mở đường và phục vụ trực tiếp cho mục tiêu phát triển quốc gia”, Đại sứ Phạm Quang Vinh nhấn mạnh.
Sự bổ trợ lý luận này chính là nền tảng vững chắc để đối ngoại thực hiện thành công chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong việc dịch chuyển trọng tâm từ "thu hút" đơn thuần sang "chọn lọc" và nâng chất các nguồn lực, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh làm trụ cột phát triển của quốc gia.
Cùng với đó, sự thay đổi mang tính hệ thống này đã thổi luồng gió mới vào mặt trận ngoại giao kinh tế, hướng trọng tâm sang việc phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia nhằm bảo đảm tính tự chủ và bền vững. Phân tích về bước dịch chuyển mang tính bước ngoặt này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Toàn, Viện trưởng Viện Kinh tế chính trị học thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nhận định, tư duy mới của Đảng đòi hỏi chuyển từ quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển, điều hành theo kết quả thực tế. Việc thu hút vốn nước ngoài giờ đây phải đặt trong chiến lược phát triển chung, hướng đến hình thành các cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo không phụ thuộc địa giới hành chính nhằm chấm dứt tình trạng cạnh tranh manh mún giữa các địa phương.
Đồng quan điểm, Đại sứ Phạm Quang Vinh phân tích, trong giai đoạn phát triển mới, mục tiêu của đất nước không chỉ là tăng trưởng nhanh mà quan trọng hơn là phát triển chất lượng cao. Để làm được điều đó, đối ngoại phải chủ động xây dựng một hệ sinh thái trong nước đủ sức hấp dẫn các dòng vốn FDI thế hệ mới, ưu tiên các dự án có hàm lượng công nghệ cao, tạo giá trị gia tăng lớn để thúc đẩy chuyển giao công nghệ thực chất.
Để thực thi hiệu quả, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Toàn nhấn mạnh việc áp dụng quy trình thủ tục đầu tư đặc biệt gắn liền với cơ chế "hậu kiểm", chuyển dần từ ưu đãi truyền thống sang cơ chế hỗ trợ gắn với hiệu quả hoạt động thực chất của dự án. Sự điều hành dựa trên kết quả này buộc nhà đầu tư phải thực hiện nghiêm túc các cam kết về tỷ lệ nội địa hóa và chuyển giao công nghệ, tạo nên một "bộ lọc" hiệu quả để sàng lọc các dự án kém chất lượng và bảo vệ tối đa lợi ích quốc gia - dân tộc.
Tuy nhiên, mọi chủ trương lớn chỉ thực sự phát huy giá trị khi được bảo đảm bằng một kỷ luật thực thi nghiêm minh của toàn hệ thống chính trị, và quyết tâm này đã được cụ thể hóa bằng hành động thực tiễn khi ngày 9/7/2026, Bộ Ngoại giao đã chủ trì cuộc họp liên ngành đầu tiên theo cơ chế mới để rà soát, đôn đốc việc thực hiện các cam kết, thỏa thuận quốc tế. Đây là dấu mốc quan trọng phản ánh sự chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy chú trọng ký kết sang coi trọng hiệu quả triển khai, đặc biệt khi lần đầu tiên trong lịch sử, nhiệm vụ rà soát, giám sát, đôn đốc được đưa trang trọng vào Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Nhằm hiện đại hóa năng lực quản trị, Bộ Ngoại giao đã đưa vào vận hành Hệ thống theo dõi thực hiện cam kết trên nền tảng số, cập nhật và giám sát theo thời gian thực hơn 1.000 thỏa thuận quốc tế không thuộc danh mục bí mật nhà nước. Việc áp dụng công nghệ số và cơ chế phối hợp liên ngành này giúp bảo đảm tuyệt đối nguyên tắc rõ cơ quan chủ trì, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ kết quả, kịp thời nhận diện vướng mắc để tháo gỡ, loại bỏ hoàn toàn tình trạng phân công chồng chéo hay trì trệ trong khâu tổ chức thực hiện.
Chính nhờ năng lực đàm phán kiên trì và kỷ luật thực thi đồng bộ đó, ngoại giao Việt Nam liên tiếp tạo ra những dấu son mới, mà điển hình là sự kiện ngày 2/7/2026, khi nước ta và các nước thành viên Khối Thương mại Tự do châu Âu (EFTA) đã chính thức ra Tuyên bố chung kết thúc đàm phán Hiệp định FTA sau hành trình 14 năm bền bỉ. Như nhận định của Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng, dấu mốc lịch sử này không chỉ nâng tổng số FTA của nước ta lên con số 18 mà còn tạo ra sự kết nối toàn diện hơn giữa Việt Nam và châu Âu, mở rộng không gian phát triển mới cho các doanh nghiệp. Ngay sau khi kết thúc đàm phán, thỏa thuận này cùng với các cam kết đối ngoại cấp cao khác sẽ lập tức được lồng ghép vào hệ thống giám sát số để chuẩn bị cho việc thực thi hiệu quả nhất, chuyển hóa các quyết sách chính trị thành dòng chảy của công nghệ, nguồn vốn xanh và tri thức tinh hoa chảy về đất nước.
Nhìn lại toàn cảnh bức tranh đối ngoại Việt Nam hiện nay, sự kết hợp chặt chẽ giữa tư duy kiến tạo phát triển và kỷ luật thực thi chính sách đang khẳng định một vị thế hoàn toàn mới của Việt Nam trên trường quốc tế. Bằng việc củng cố nội lực vững chắc và quyết tâm biến lời nói thành hành động thực tế theo đúng định hướng của Nghị quyết 06-NQ/TW, tiếng vang của chiếc “chiêng thực lực” Việt Nam chắc chắn sẽ tiếp tục ngân vang đầy tự hào, đưa đất nước vững bước vươn mình sánh vai với các cường quốc năm châu trong kỷ nguyên mới.