Đó là không còn dừng lại ở việc xác định quy mô nguồn điện trên kế hoạch, mà chuyển trọng tâm sang nâng cao năng lực cung ứng thực tế, đảm bảo sự đồng bộ giữa nguồn, lưới và phụ tải trong bối cảnh đáp ứng yêu cầu cho tăng trưởng 2 con số của nền kinh tế.
Cảng biển tổng hợp Cà Ná (xã Cà Ná, tỉnh Khánh Hòa) sẽ là nơi trung chuyển, phục vụ phát triển của Trung tâm công nghiệp, dịch vụ năng lượng tái tạo. Ảnh: Công Thử/TTXVN
Quy hoạch là nền tảng, thực thi là cốt lõi
Theo Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương) Bùi Quốc Hùng, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 là kim chỉ nam cho giai đoạn tới. Mục tiêu cao nhất là bảo đảm đủ điện cho phát triển kinh tế - xã hội với mức tăng trưởng GDP bình quân khoảng 10%/năm trong giai đoạn 2026-2030.
Những con số dự báo đến năm 2030 cho thấy quy mô đồ sộ của hệ thống: Điện thương phẩm đạt 500,4-557,8 tỷ kWh; điện sản xuất và nhập khẩu đạt 560,4-624,6 tỷ kWh; công suất cực đại lên tới 89.655-99.934 MW. Để hiện thực hóa điều này, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các đơn vị đang tập trung mọi nguồn lực để hoàn thành 292 công trình truyền tải điện trong giai đoạn 2026-2030, bao gồm 78 công trình 500kV và 214 công trình 220kV. Tổng khối lượng xây lắp lên tới hơn 16.600 km đường dây với nhu cầu vốn đầu tư thuần ước tính 157.900 tỷ đồng.
Tuy nhiên, con số quy hoạch chỉ là "điều kiện cần". Khả năng hiện thực hóa các dự án này vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản từ thực tiễn, điển hình là các vướng mắc về bồi thường, giải phóng mặt bằng, thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, quy hoạch khoáng sản và những khó khăn trong việc đồng bộ tiến độ giữa nguồn và lưới điện.
PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh một thực tế quan trọng: Giá trị của một MW điện không nằm ở con số ghi trên quy hoạch, mà nằm ở lượng điện thực tế có thể phát và khả năng sẵn sàng cung ứng đúng lúc, đúng khu vực. Giữa công suất thiết kế và sản lượng huy động luôn tồn tại một khoảng cách lớn và khoảng cách này đang đặt ra thách thức cho các dự án điện khí LNG.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đến năm 2030, tổng công suất điện khí LNG cả nước phải đạt 22.524 MW với 15 dự án vận hành. Đến nay, mới chỉ có Nhà máy nhiệt điện LNG Nhơn Trạch 3 và 4 vận hành thương mại với tổng cong suất 1.624 MW. Việc lấp đầy khoảng trống hơn 20.000 MW còn lại đòi hỏi tốc độ triển khai thần tốc. Tuy nhiên, nhiều dự án vẫn đang loay hoay với các nút thắt về lựa chọn nhà đầu tư, thu xếp vốn, hợp đồng mua bán điện và các thủ tục pháp lý phức tạp.
Dự án Nhà máy nhiệt điện LNG Cà Ná nằm gần Cảng biển tổng hợp và khu công nghiệp Cà Ná (xã Cà Ná, tỉnh Khánh Hòa). Ảnh: Công Thử/TTXVN
Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, cần thay đổi tư duy từ "giải cứu dự án" sang "mua đúng năng lực hệ thống". Điều này đòi hỏi phải thẩm định lại toàn bộ các dự án LNG theo nhu cầu thực tế thay vì mặc định quy hoạch là phải làm. Đồng thời, cần thiết kế mô hình thị trường điện thông minh hơn như: nguồn cung cấp nền cần hợp đồng dài hạn, nguồn đáp ứng công suất đỉnh cần trả theo độ sẵn sàng và nguồn làm nhiệm vụ cân bằng hệ thống cần được chi trả xứng đáng cho dịch vụ phụ trợ.
Vì mục tiêu: Năng lượng đi trước một bước
Song hành với việc phát triển nguồn, lưới truyền tải đang chịu sức ép cực kỳ lớn trước sự tăng trưởng phụ tải tại các khu vực kinh tế trọng điểm. Tại miền Bắc, những ngày nắng nóng đỉnh điểm, công suất toàn hệ thống đã vọt lên gần 30.000 MW.
Tại Bắc Ninh, tốc độ tăng trưởng phụ tải lên đến 22,5% so với cùng kỳ khiến hệ thống truyền tải điện rơi vào tình trạng "căng mình". Tỷ lệ công suất cực đại so với dung lượng đặt tại các máy biến áp 220kV đã đạt ngưỡng 100%, đồng nghĩa với việc dự phòng cấp điện gần như bằng không. Tương tự, tại TP. Hồ Chí Minh, hàng loạt dự án lưới điện 220kV đang bị đình trệ do vướng mắc giải phóng mặt bằng và thủ tục đầu tư.
Những diễn biến này cho thấy nguồn điện, lưới truyền tải và lưới phân phối không thể tách rời. Nếu tiến độ không đồng bộ, nguồn điện dù có sẵn cũng không thể giải tỏa công suất và phụ tải dù có nhu cầu cũng không thể tiếp nhận điện năng an toàn.
Nghị quyết 70-NQ/TW đã định hướng rõ: Năng lượng phải đi trước một bước để đón đầu phát triển kinh tế. Cụ thể hóa điều này, trong 7 tháng qua, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã khởi công 98 công trình lưới điện và đóng điện thành công 100 công trình các cấp điện áp. Các dự án trọng điểm như điện hạt nhân Ninh Thuận 1, thủy điện tích năng, điện gió ngoài khơi và đặc biệt là hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS) đang được đẩy nhanh tiến độ.
Mục tiêu của tháng 8/2026 là hoàn thành các công trình lưới điện quan trọng phục vụ APEC 2027 và đóng điện toàn bộ 305 MW BESS - một bước tiến lớn trong việc nâng cao khả năng điều độ linh hoạt của hệ thống điện. Sản lượng điện toàn hệ thống trong 7 tháng đạt hơn 203 tỷ kWh, cho thấy sự nỗ lực rất lớn của ngành điện trong việc duy trì dòng điện cho sản xuất và sinh hoạt.
Vấn đề đặt ra không phải là bao nhiêu dự án được đặt ra trong quy hoạch, mà là bao nhiêu MW thực sự hòa lưới, bao nhiêu sản lượng điện chắc chắn được huy động và khả năng cung ứng ổn định ra sao.
Trước yêu cầu tăng trưởng GDP 2 con số từ năm 2026, ngành điện đang nỗ lực chuyển mình từ tư duy "đạt mục tiêu" sang "nâng cao năng lực cung ứng thực chất". Đây là hành trình không chỉ đòi hỏi vốn, công nghệ mà còn cần sự thông suốt về cơ chế, sự đồng bộ trong quy hoạch và tư duy quản trị rủi ro khoa học để điện "đi trước một bước", đảm bảo mạch máu năng lượng của nền kinh tế luôn vận hành an toàn và tin cậy.
Bài 3: Xã hội hóa để hiện thực mục tiêu dự trữ xăng dầu