Sản xuất hàng may mặc tại Xí nghiệp Sơ mi, Veston của Tổng Công ty May 10 tại Sài Đồng, Quận Long Biên, Hà Nội. Ảnh minh họa: Anh Tuấn/TTXVN
Bà đánh giá như thế nào về đóng góp quan trọng của kinh tế nhà nước trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội những năm qua?
Trải qua 4 thập kỷ, kinh tế nhà nước tại Việt Nam không chỉ là một thành phần kinh tế mà đã trở thành công cụ điều tiết vĩ mô hữu hiệu nhất của nhà nước. Trong mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo cho sự ổn định và là "đầu tàu" cho sự phát triển.
Thực tế lịch sử từ các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến đại dịch COVID-19 đã chứng minh: Khi thị trường tư nhân có xu hướng co cụm để bảo toàn vốn, các doanh nghiệp nhà nước lại là lực lượng tiên phong đứng ra gánh vác trách nhiệm. Hệ thống các ngân hàng thương mại nhà nước luôn là dòng máu lưu thông chính của nền kinh tế. Họ không chỉ dẫn dắt mặt bằng lãi suất mà còn thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ thanh khoản cho toàn hệ thống trong những giai đoạn ngặt nghèo nhất.
Hiện, doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng cao trong sản xuất các sản phẩm thiết yếu như: Viễn thông, năng lượng, phân bón, hóa chất và hạ tầng tài chính… Điển hình, trong lĩnh vực năng lượng, các doanh nghiệp nhà nước cung cấp khoảng 87% sản lượng điện, hơn 84% thị phần bán lẻ xăng dầu, 100% thị phần khí thô và 70% thị phần khí hóa lỏng, đáp ứng 70% nhu cầu xăng dầu và 70-75% nhu cầu phân đạm.
Xét về khía cạnh tài chính, các doanh nghiệp nhà nước có xu hướng hoạt động tốt hơn các doanh nghiệp tư nhân trong nước và ngoài nước. Quy mô doanh nghiệp nhà nước không quá khác biệt với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, do đó, các doanh nghiệp nhà nước không quá bất lợi trong cạnh tranh nếu xét theo quy mô. Trong một số ngành, các doanh nghiệp nhà nước có mức độ trang bị vốn cao hơn so với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cùng ngành.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, khu vực kinh tế nhà nước vẫn còn những "nút thắt" về hiệu quả quản trị và sự chậm chạp trong đổi mới sáng tạo. Nghị quyết 79 ra đời chính là để tháo gỡ những rào cản này.
Một trong những điểm mới mang tính đột phá của Nghị quyết 79 là thí điểm cơ chế thuê, tuyển dụng, bổ nhiệm Tổng Giám đốc, Giám đốc tại một số doanh nghiệp nhà nước. Từ kết quả nghiên cứu thực trạng doanh nghiệp nhà nước Việt Nam thời gian qua, bà đánh giá thế nào về tính khả thi của cơ chế này trong việc xóa bỏ tư duy "hành chính hóa" và tiến tới quản trị hiện đại theo chuẩn bộ quy tắc quản trị (OECD)?"
Đây có thể coi là một cuộc "cách mạng" về tư duy nhân sự trong khu vực công. Từ trước đến nay, lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước thường được nhìn nhận như những "viên chức cao cấp" hơn là những "nhà quản trị kinh doanh". Sự thay đổi từ cơ chế "bổ nhiệm hành chính" sang "thuê tuyển theo hợp đồng" sẽ tạo ra những thay đổi mang tính bản chất.
Theo đó, giám đốc điều hành (CEO) sẽ không còn ngồi vào ghế lãnh đạo dựa trên ngạch, bậc hay quy trình luân chuyển cán bộ thuần túy. Họ phải chứng minh được năng lực thông qua các bản kế hoạch kinh doanh và cam kết chỉ số đánh giá hiệu quả công việc cụ thể. Nếu không đạt mục tiêu, họ sẽ bị chấm dứt hợp đồng - một quy luật sòng phẳng của thị trường mà trước đây cơ chế "biên chế" khó thực hiện được. Cơ chế thuê giám đốc điều hành cho phép doanh nghiệp nhà nước tiếp cận nguồn nhân lực chất lượng cao, những người mang trong mình tư duy quản trị rủi ro, sự nhạy bén thị trường và mạng lưới quan hệ toàn cầu. Điều này giúp xóa bỏ tính "khép kín" trong quản trị doanh nghiệp nhà nước.
Theo quy tắc của bộ quy tắc quản trị, cần có sự tách biệt rõ ràng giữa quyền sở hữu của Nhà nước và quyền điều hành của doanh nghiệp. Việc thuê giám đốc điều hành chuyên nghiệp là bước đi đầu tiên để Hội đồng quản trị thực hiện đúng chức năng giám sát, còn giám đốc điều hành thực hiện chức năng điều hành độc lập.
Xét về tính khả thi, kinh nghiệm thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, cơ chế này không phải là hoàn toàn mới. Thời gian qua, một số tập đoàn, Tổng công ty nhà nước đã từng thí điểm thuê chuyên gia quản lý, giám đốc điều hành hoặc tổng giám đốc từ bên ngoài, đặc biệt trong các lĩnh vực tài chính, viễn thông, hàng không và công nghệ. Kết quả cho thấy, ở những nơi cơ chế hợp đồng được thực hiện rõ ràng, gắn trách nhiệm cá nhân với chỉ tiêu tài chính, năng suất lao động và chất lượng dịch vụ, hiệu quả điều hành được cải thiện đáng kể, tư duy thị trường được củng cố, tính linh hoạt trong ra quyết định được nâng cao. Về mặt thực tiễn, thị trường lao động quản lý cấp cao ở Việt Nam đã đủ độ chín để triển khai cơ chế này ở quy mô lớn hơn.
Quan trọng hơn, cơ chế thuê và tuyển dụng Tổng Giám đốc theo hợp đồng phù hợp với các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp nhà nước của bộ quy tắc quản trị, đặc biệt là nguyên tắc chuyên nghiệp hóa đội ngũ điều hành, tăng quyền tự chủ đi đôi với trách nhiệm giải trình và đánh giá hiệu quả dựa trên kết quả đầu ra.
Theo chuẩn mực quốc tế, hội đồng quản trị hoặc cơ quan đại diện chủ sở hữu cần đóng vai trò lựa chọn, giám sát và đánh giá người điều hành, thay vì can thiệp trực tiếp vào hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp. Cơ chế mới mà Nghị quyết 79 đề xuất chính là điều kiện để hiện thực hóa mô hình đó tại Việt Nam.
Nghị quyết 79 đặt ra mục tiêu cụ thể đến năm 2030 Việt Nam có ít nhất 1-3 doanh nghiệp nhà nước lọt nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới, theo bà, các Tập đoàn kinh tế lớn của chúng ta cần phải thay đổi chiến lược "vươn ra biển lớn" như thế nào để đủ cạnh tranh sòng phẳng về công nghệ và thương hiệu toàn cầu?"?
Con số 1-3 doanh nghiệp không chỉ là mục tiêu về quy mô tài sản hay doanh thu, mà là thước đo về vị thế quốc gia. Để cạnh tranh sòng phẳng với các tập đoàn đa quốc gia, các doanh nghiệp nhà nước lớn của Việt Nam cần thay đổi chiến lược tiếp cận.
Trước mắt, các tập đoàn, doanh nghiệp không thể mãi dựa vào tài nguyên hay độc quyền tự nhiên mà cần chuyển từ "khai thác lợi thế sẵn có" sang "tạo lập lợi thế công nghệ". Trong kỷ nguyên Net Zero, các doanh nghiệp phải có chiến lược chuyển đổi năng lượng xanh, phải trở thành tập đoàn năng lượng tái tạo, Hydrogen xanh; phải làm chủ công nghệ lưới điện thông minh. Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển không còn là lựa chọn mà là sự sinh tồn, Việt Nam cần những trung tâm nghiên cứu của người Việt đặt tại các "thung lũng công nghệ" để hấp thụ tinh hoa thế giới.
Để lọt vào Top 500 trong thời gian ngắn, tăng trưởng tự thân là không đủ. Các doanh nghiệp nhà nước cần chủ động nắm giữ thị phần tại các thị trường trọng điểm. Nhà nước cần đóng vai trò là "bà đỡ" về mặt pháp lý và bảo lãnh tài chính để các tập đoàn mạnh dạn thực hiện.
Cùng với đó, các tập đoàn, donh nghiệp Việt Nam phải tuân thủ nghiêm ngặt chuẩn mực ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị), trong đó, phải minh bạch hóa thông tin, báo cáo phát triển bền vững và chứng minh trách nhiệm với cộng đồng. Chỉ khi đạt chuẩn ESG, các tập đoàn này mới có thể tiếp cận được nguồn vốn xanh giá rẻ từ các định chế tài chính quốc tế.
Các đơn vị, doanh nghiệp lớn cần vươn ra đầu tư các cảng biển chiến lược tại nước ngoài, kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu, biến Việt Nam thành mắt xích không thể thay thế trong dòng chảy thương mại quốc tế.
Tóm lại, Nghị quyết 79-NQ/TW đã định vị rõ kinh tế nhà nước không làm thay thị trường, mà là công cụ để Nhà nước điều tiết, khắc phục các "khuyết tật" của thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự thành công của Nghị quyết này không chỉ nằm ở những con số tăng trưởng mà ở việc tạo ra một thế hệ doanh nghiệp nhà nước mới: Hiện đại về quản trị, dẫn đầu về công nghệ và vững vàng về bản lĩnh chính trị. Đây chính là nền tảng để Việt Nam tự tin hội nhập và vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.
Trân trọng cảm ơn Tiến sĩ!