Tuy nhiên, phần lớn diện tích này vẫn trong tình trạng quản lý tạm thời, thiếu chủ thể quản lý ổn định, khiến nhiều tiềm năng phát triển kinh tế lâm nghiệp chưa được khai thác hiệu quả.
Tổ tuần tra của các hộ dân nhận khoán quản lý bảo vệ rừng thôn 2, xã Đam Rông 2 (Lâm Đồng) đi tuần tra bảo vệ rừng. Ảnh: Chu Quốc Hùng/TTXVN
Đây là vấn đề được các chuyên gia, nhà quản lý và địa phương tập trung thảo luận tại Hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp do UBND xã quản lý” do Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam tổ chức sáng 4/6 tại Hà Nội.
Khi rừng chưa có chủ rừng thực sự
Theo ông Nguyễn Hữu Thiện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, số liệu công bố hiện trạng rừng năm 2025 cho thấy cả nước hiện có 3,07 triệu ha rừng do UBND cấp xã quản lý, chiếm khoảng 20,5% tổng diện tích rừng toàn quốc.
Đây là nguồn tài nguyên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hòa khí hậu và góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều địa phương. Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển lâm nghiệp bền vững, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và các cơ chế tài chính mới từ thị trường carbon, việc quản lý diện tích rừng này đang đặt ra nhiều yêu cầu mới.
Theo ông Nguyễn Văn Tiến, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, phần lớn diện tích rừng và đất lâm nghiệp do UBND xã quản lý hiện nay là những khu vực còn tồn tại tranh chấp, chồng lấn quyền sử dụng đất hoặc chưa đủ điều kiện để giao cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân.
Trong nhiều năm qua, việc duy trì quản lý ở cấp xã đã góp phần hạn chế xung đột, tạo điều kiện cho quá trình giao đất, giao rừng diễn ra từng bước. Tuy nhiên, thực tế cho thấy đây vẫn là quỹ đất và tài nguyên rừng rất lớn nhưng đang trong tình trạng quản lý mang tính tạm thời, thiếu định hướng sử dụng và phát triển lâu dài.
“Việc rà soát toàn diện, tổng kết thực tiễn và xây dựng khung chính sách đồng bộ nhằm xác lập chủ rừng thực sự cho 3,07 triệu ha rừng hiện do UBND xã quản lý là yêu cầu hết sức cấp bách”, ông Tiến nhấn mạnh.
Theo ông Nguyễn Văn Tiến, đây là điều kiện tiên quyết để đưa quỹ rừng này thoát khỏi tình trạng “cha chung không ai khóc”, phát huy tiềm năng phát triển lâm nghiệp, tạo sinh kế cho người dân vùng sâu, vùng xa, đồng thời đóng góp vào mục tiêu bảo vệ môi trường và thực hiện cam kết trung hòa phát thải khí nhà kính của Việt Nam.
Kết quả tổng hợp báo cáo từ 13 tỉnh cho thấy chất lượng rừng do UBND cấp xã quản lý hiện có sự phân hóa lớn nhưng nhìn chung vẫn ở mức thấp. Rừng nghèo và rừng phục hồi chiếm tỷ trọng chủ yếu, tập trung ở các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn.
Theo các chuyên gia, đây là một vòng luẩn quẩn kéo dài nhiều năm. Chính vì chất lượng rừng thấp nên không hấp dẫn các chủ thể nhận giao quản lý. Ngược lại, do thiếu chủ thể quản lý hiệu quả nên chất lượng rừng tiếp tục suy giảm.
Trong bối cảnh đó, kết quả quan trọng nhất của công tác quản lý rừng cấp xã thời gian qua là vẫn duy trì được diện tích rừng hiện có, hạn chế tình trạng mất rừng trên diện rộng.
Tuy nhiên, nếu không sớm có giải pháp căn cơ, tình trạng này sẽ tiếp tục gây lãng phí nguồn tài nguyên quốc gia, làm suy giảm chất lượng môi trường, bỏ lỡ cơ hội tham gia thị trường carbon rừng và tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tranh chấp đất đai.
Theo ông Nguyễn Văn Tiến, giải pháp quan trọng nhất hiện nay là đẩy nhanh giao các diện tích rừng này cho các chủ thể phù hợp như cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân hoặc các ban quản lý rừng chuyên trách.
“Chỉ khi rừng được xác lập chủ thể quản lý ổn định, gắn đầy đủ quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ thì công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng mới có thể thực hiện hiệu quả, ổn định và bền vững”, ông Tiến cho biết.
Tăng quyền cho cấp xã nhưng cần thêm nguồn lực
Các cán bộ thuộc Ban Quản lý Rừng đặc dụng Đăk Uy (tỉnh Quảng Ngãi) tuần tra, kiểm soát rừng trắc. Ảnh: Dư Toán/TTXVN
Từ ngày 1/7/2025, theo quy định về phân cấp, phân quyền trong tổ chức chính quyền địa phương, UBND cấp xã được trao thêm nhiều thẩm quyền trong lĩnh vực đất đai và lâm nghiệp, bao gồm giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư.
Các chuyên gia nhận định đây là cơ hội quan trọng để đẩy nhanh tiến trình giao đất, giao rừng, hoàn thiện hồ sơ pháp lý và xác lập chủ thể quản lý ổn định cho diện tích rừng còn lại. Tuy nhiên, thực tiễn tại cơ sở cho thấy nguồn lực dành cho công tác quản lý rừng vẫn còn rất hạn chế.
Chia sẻ tại hội thảo, ông Cầm Bun Lộc, Chủ tịch UBND xã Nậm Lầu (tỉnh Sơn La) cho biết, địa phương hiện đang quản lý khoảng 1.600 ha rừng và đất lâm nghiệp. Với đặc thù là xã miền núi có địa hình rộng, chia cắt phức tạp, việc chỉ bố trí một cán bộ phụ trách quản lý toàn bộ diện tích này là gần như không khả thi.
Khó khăn còn đến từ việc nhiều diện tích rừng mới chỉ được bàn giao trên hồ sơ giấy tờ, chưa được xác định ranh giới và cắm mốc cụ thể ngoài thực địa. “Muốn quản lý hiệu quả thì trước hết phải xác định rõ ranh giới, hoàn thiện hồ sơ pháp lý và xây dựng cơ sở dữ liệu số về rừng”, ông Lộc kiến nghị.
Ngoài đề xuất tăng cường nguồn nhân lực, kinh phí, ông Cầm Bun Lộc cũng mong muốn được hỗ trợ các công cụ giám sát hiện đại như ảnh viễn thám, hệ thống theo dõi bằng vệ tinh, thiết bị bay không người lái để phục vụ quản lý tài nguyên rừng.
Theo ông Bùi Giang Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, cùng với việc đẩy nhanh giao đất, giao rừng, cần tập trung đồng bộ hóa dữ liệu rừng sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính.
Theo đó, cần rà soát, đo đạc và số hóa toàn bộ bản đồ rừng từ cấp xã; xử lý dứt điểm các tranh chấp, lấn chiếm đất lâm nghiệp phát sinh (nếu có); đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quản lý rừng.
Các thành viên bảo vệ rừng Tây Giang (TP Đà Nẵng) sử dụng ứng dụng trên điện thoại thông minh để tuần tra rừng. Ảnh: Đỗ Trưởng/TTXVN
Việc ứng dụng ảnh vệ tinh, công nghệ viễn thám, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng dữ liệu số sẽ giúp nâng cao năng lực giám sát tài nguyên rừng, phát hiện sớm các biến động và giảm áp lực cho lực lượng quản lý tại cơ sở.
Các chuyên gia cho rằng, trong hoàn thiện thể chế cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Lâm nghiệp và các văn bản liên quan theo hướng quy định rõ hơn trách nhiệm của chính quyền cấp xã cũng như trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác bảo vệ rừng.
Quan trọng hơn, các địa phương phải xây dựng lộ trình cụ thể để sớm hoàn thành giao đất, giao rừng, đưa toàn bộ diện tích rừng hiện do UBND xã quản lý về đúng chủ thể quản lý lâu dài.
Khi rừng có chủ thực sự, được quản lý bằng công nghệ hiện đại và gắn với lợi ích kinh tế từ lâm nghiệp bền vững, dịch vụ môi trường rừng và thị trường carbon, hơn 3 triệu ha rừng trên sẽ không chỉ là diện tích cần bảo vệ mà còn trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế xanh.