Các chuyên gia, nhà khoa học tìm hiểu về mô hình canh tác lúa phát thải thấp tại xã Vị Thanh 1, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Duy Khương/TTXVN
Thực tế triển khai các mô hình sản xuất lúa phát thải thấp thời gian qua cho thấy, một trong những điểm nghẽn lớn nhất vẫn là đầu ra. Khi chưa có thị trường ổn định và mức giá đủ hấp dẫn, nông dân khó duy trì các quy trình canh tác mới, vốn đòi hỏi sự thay đổi về tập quán và đầu tư ban đầu.
Tại hội thảo mới đây về xây dựng vùng nguyên liệu từ mô hình canh tác lúa phát thải thấp với sự tham gia của đông đảo nông dân, ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA) đã đặt câu hỏi “sản xuất lúa rồi bán cho ai?”. Sự im lặng của người nông dân phần nào phản ánh thực tế thiếu liên kết trong tiêu thụ sản phẩm. Theo ông Tùng, dù câu chuyện được nêu ra theo cách trao đổi cởi mở, nhưng lại chỉ ra vấn đề cốt lõi là sản xuất lúa vẫn mang tính tự phát, phụ thuộc vào thương lái và biến động giá cả thị trường.
Nhiều chuyên gia nông nghiệp cũng nhận định, để phát triển bền vững vùng lúa chất lượng cao, phát thải thấp, việc xây dựng chuỗi liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp là yếu tố quyết định. Trong đó, doanh nghiệp không chỉ đóng vai trò thu mua mà còn giữ vị trí đầu tàu, tham gia sâu vào toàn bộ chuỗi giá trị, từ cung ứng vật tư đầu vào, chuyển giao kỹ thuật, kiểm soát chất lượng đến mở rộng thị trường tiêu thụ, đặc biệt là thị trường xuất khẩu.
Vì trong bối cảnh các thị trường quốc tế ngày càng siết chặt yêu cầu về phát thải carbon và truy xuất nguồn gốc, vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp càng trở nên quan trọng. Nhất là trong lĩnh vực canh tác lúa bền vững, nếu không hình thành được chuỗi giá trị khép kín, các mô hình giảm phát thải sẽ khó tạo ra giá trị gia tăng đủ lớn để khuyến khích nông dân tham gia lâu dài.
Theo bà Trần Thị Kim Thúy, Phó Chi cục trưởng, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thành phố Cần Thơ, việc số hóa dữ liệu canh tác lúa sẽ giúp kiểm soát chặt chẽ các yếu tố đầu vào như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, qua đó giảm phát thải và đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu. Thành phố đang hướng tới cấp mã số vùng trồng lúa dựa trên nền tảng dữ liệu số, tạo cơ sở cho quản lý sản xuất và truy xuất nguồn gốc minh bạch.
Ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA) cho rằng vấn đề cốt lõi là sản xuất lúa vẫn mang tính tự phát, phụ thuộc vào thương lái và biến động giá cả thị trường. Ảnh: Duy Khương/TTXVN
Góc nhìn từ nhiều nhà khoa học cũng cho thấy, số hóa không chỉ phục vụ quản lý mà còn là công cụ để đo lường phát thải, đánh giá hiệu quả canh tác theo thời gian thực. Đây là điều kiện cần để tham gia các thị trường tín chỉ carbon trong tương lai, hướng đi đang được nhiều quốc gia quan tâm.
Bên cạnh đó, thực tế khảo sát tại các mô hình điểm như Hợp tác xã Kiến Thành, ấp 9A2 (xã Vị Thanh 1, thành phố Cần Thơ) cho thấy hạ tầng vẫn là điểm nghẽn lớn. Việc tiếp cận khu vực sản xuất còn khó khăn, giao thông nội đồng chưa đồng bộ, ảnh hưởng lớn đến cơ giới hóa và vận chuyển nông sản. Do đó, các chuyên gia đề xuất cần đầu tư đồng bộ hệ thống giao thông, thủy lợi, kho chứa và chế biến nhằm phục vụ vùng nguyên liệu quy mô lớn. Ngoài ra, việc phát triển các dịch vụ nông nghiệp hiện đại như thiết bị bay (drone), hệ thống bơm tưới tự động, và chuỗi cung ứng vật tư chất lượng cao cũng cần được đẩy mạnh. Đây là những yếu tố góp phần giảm chi phí, nâng cao năng suất và đảm bảo tính đồng bộ trong sản xuất lúa phát thải thấp.
Theo định hướng của ngành nông nghiệp Cần Thơ, phát triển vùng lúa phát thải thấp không thể thực hiện đơn lẻ mà cần có sự liên kết giữa các địa phương, nhằm tạo quy mô đủ lớn và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bà Nguyễn Thanh Thúy, Phó Chi cục trưởng, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thành phố Cần Thơ cho rằng các hợp tác xã và tổ hợp tác được xác định là cầu nối giữa nông dân và doanh nghiệp, đóng vai trò tổ chức sản xuất lúa theo quy trình thống nhất, từ khâu giống, gieo sạ thưa, quản lý nước đến sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hợp lý. Ảnh: Duy Khương/TTXVN
Trong tiến trình này, nhà nước giữ vai trò định hướng, ban hành cơ chế chính sách và hỗ trợ kết nối các chủ thể trong chuỗi giá trị. Theo bà Nguyễn Thanh Thúy, Phó Chi cục trưởng, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thành phố Cần Thơ, thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ có 170 nghìn ha lúa phát thải thấp với sự tham gia của 171 hợp tác xã. Đây là bước đi quan trọng nhằm tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, quy mô lớn, gắn với ứng dụng khoa học kỹ thuật.
Theo đó, các hợp tác xã và tổ hợp tác được xác định là cầu nối giữa nông dân và doanh nghiệp, đóng vai trò tổ chức sản xuất lúa theo quy trình thống nhất, từ khâu giống, gieo sạ thưa, quản lý nước đến sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hợp lý. Những giải pháp này không chỉ giúp giảm chi phí đầu vào mà còn góp phần cắt giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao giá trị hạt lúa.
Bên cạnh đó, sự tham gia của các tổ chức như Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) và VIETRISA sẽ mang lại nguồn lực quan trọng về khoa học công nghệ, chuyển giao kỹ thuật canh tác tiên tiến cũng như hỗ trợ kết nối thị trường. Đây là nền tảng để từng bước hình thành chuỗi giá trị lúa gạo bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu tại Cần Thơ.
Như vậy, để đạt mục tiêu 170 nghìn ha lúa phát thải thấp vào năm 2030, Cần Thơ cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó hai trụ cột chính là hỗ trợ nông dân và xây dựng liên kết chuỗi chặt chẽ sẽ quyết định quan trọng thời gian tới.
Vì từ thực tiễn hơn 8 nghìn ha lúa phát thải thấp đã triển khai thí điểm tại Cần Thơ thời gian qua, cho thấy rằng khi người nông dân được hỗ trợ kỹ thuật, đồng thời được gắn vào chuỗi giá trị ổn định, hiệu quả sản xuất sẽ được nâng lên rõ rệt, việc nhân rộng lúa phát thải thấp được nông dân tin tưởng hơn.
Như vậy, liên kết không chỉ là giải pháp trước mắt mà còn là chìa khóa lâu dài để ngành lúa gạo Cần Thơ phát triển theo hướng xanh, bền vững và có trách nhiệm hơn với môi trường, từ đó, đưa canh tác lúa phát thải thấp không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao hơn giá trị, vị thế hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.