Doanh nghiệp TP Hồ Chí Minh cần nguồn vốn xanh để đầu tư sản xuất xanh.
Lãi vay cao níu chân kế hoạch mở rộng
Chia sẻ về tình trạng doanh nghiệp đang khát vốn, bà Lâm Thúy Ái, Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân Sài Gòn, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Mebi Farm cho biết, mỗi tuần đều có một số doanh nghiệp tìm đến trao đổi, tìm hướng tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, kinh doanh. Một trong những vấn đề được phản ánh nhiều nhất là vốn.
Theo bà Thúy Ái, trước đây lãi suất vay khoảng 8 - 9%/năm nhưng hiện có thể lên 11 - 12%, thậm chí 14 - 15%/năm tùy mức độ rủi ro. Với những ngành có biên lợi nhuận không cao, chi phí vốn ở mức này có thể lấy đi phần lớn kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp buộc phải thu hẹp hoạt động, giãn tiến độ đầu tư hoặc chấp nhận hy sinh lợi nhuận để giữ đơn hàng và người lao động.
Cộng đồng doanh nghiệp kỳ vọng, các ngân hàng có thêm gói tín dụng với lãi suất phù hợp, điều kiện tiếp cận linh hoạt để bổ sung vốn lưu động, mua nguyên liệu và chuẩn bị đơn hàng cuối năm. Nếu dòng vốn được khơi thông kịp thời, doanh nghiệp sẽ có điều kiện duy trì sản xuất, bảo đảm việc làm và tận dụng tốt sức mua trong mùa kinh doanh cao điểm.
Thống kê của Ngân hàng Nhà nước, từ đầu năm đến cuối tháng 7, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng khoảng 8,38% so với cuối năm trước. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa tiếp cận được khoản vay phù hợp hoặc phải chịu mức lãi cao, cho thấy dòng tiền chưa hẳn đến đúng nơi có thể chuyển nhanh thành sản lượng và việc làm.
Ông Nguyễn Quốc Kỳ, Phó Chủ tịch HUBA, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Du lịch Vietravel, đặt vấn đề tín dụng có đang đến đúng doanh nghiệp với giá vốn phù hợp hay không. Khảo sát nhóm chế biến, chế tạo cho thấy doanh nghiệp tốt có thể vay 10 - 12%/năm, còn đơn vị bị đánh giá rủi ro có thể chịu mức 14 - 15%/năm.
Theo ông Kỳ, với quy mô kinh tế lớn, TP Hồ Chí Minh cần nguồn vốn đầu tư rất lớn để mở rộng năng lực sản xuất. Nếu chi phí vốn của khu vực tư nhân duy trì ở mức 12 - 15%, khả năng đưa vốn vào sản xuất, kinh doanh sẽ bị hạn chế. Trong bối cảnh chưa thể giảm mặt bằng lãi suất trên diện rộng, ông cho rằng cần ưu tiên nguồn vốn có chi phí thấp hơn cho những doanh nghiệp trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ và việc làm, dựa trên dòng tiền, đơn hàng và vai trò trong chuỗi giá trị.
Cùng đề cập bài toán vốn, Tiến sĩ Trần Du Lịch cho rằng khó kỳ vọng mặt bằng lãi suất giảm mạnh trong năm 2026 khi nền kinh tế vừa chịu sức ép lạm phát, vừa theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao. Chính sách tiền tệ vì vậy phải cân bằng giữa hỗ trợ sản xuất, kinh doanh với yêu cầu ổn định giá cả, tỷ giá và an toàn hệ thống tài chính. Theo ông, cần mở rộng các kênh huy động vốn qua thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp và nguồn vốn nước ngoài, qua đó giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Đưa dự án đạt chuẩn đến các kênh vốn dài hạn
Ông Từ Tiến Phát, Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB), cho biết doanh nghiệp xuất nhập khẩu có nguồn thu ngoại tệ có thể vay USD với lãi suất khoảng 4%/năm. Nếu tính biến động tỷ giá 1 - 1,5%, tổng chi phí ước không quá 6%. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải có nguồn thu cùng loại tiền và sử dụng hợp đồng kỳ hạn hoặc công cụ phái sinh để hạn chế rủi ro tỷ giá.
Theo ông Tiến Phát, doanh nghiệp quy mô vừa có thể phát hành trái phiếu cho dự án cần vốn ổn định từ 5 - 7 năm. Đối với doanh nghiệp tại Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan (Trung Quốc) có nhu cầu cung cấp vốn cho doanh nghiệp Việt Nam; chi phí ACB đang thu xếp khoảng 6 - 7% bằng USD. Nếu được bảo hiểm tỷ giá phù hợp, đây là nguồn lực đáng cân nhắc.
TP Hồ Chí Minh đầu tư mọi nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Nhu cầu tài chính càng lớn đối với các doanh nghiệp đang chuyển đổi theo hướng xanh. Theo Báo cáo Quốc gia về Khí hậu và phát triển của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam cần khoảng 368 tỷ USD đầu tư bổ sung đến năm 2040 để thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải. Trong đó, khu vực tư nhân được kỳ vọng đảm nhận khoảng một nửa nhu cầu vốn, cho thấy quy mô đầu tư vượt khả năng đáp ứng của một kênh tài chính riêng lẻ.
PGS. Tiến sĩ Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) cho rằng, vấn đề không chỉ là huy động thêm vốn mà còn phải chuẩn bị được các dự án đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư. Trung tâm sẽ hỗ trợ chuẩn hóa dữ liệu, giảm rủi ro và từng bước đưa các dự án đủ điều kiện tiếp cận thị trường vốn quốc tế. Sau khoảng sáu tháng hoạt động, VIFC-HCMC ghi nhận khoảng 20 tỷ USD vốn cam kết từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước; trọng tâm tiếp theo là chuyển các cam kết này thành dòng vốn thực cho những dự án có khả năng triển khai và chứng minh được hiệu quả.
Theo ông Paul Xavier, chuyên gia của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), nguồn vốn dành cho các dự án xanh trên thị trường quốc tế khá dồi dào, nhưng nhà đầu tư ưu tiên những thị trường có danh mục dự án rõ ràng, hệ thống phân loại thống nhất, dữ liệu minh bạch và chính sách ổn định. Vì vậy, yếu tố quyết định vẫn là chất lượng dự án. Khi tính khả thi về tài chính, năng lực của chủ đầu tư và hiệu quả dự kiến được chứng minh, tiêu chí xanh sẽ trở thành lợi thế để thu hút nguồn vốn dài hạn.
Ở góc độ ngân hàng, ông Võ Hoàng Hải, Phó Tổng Giám đốc Nam A Bank cho rằng tài chính xanh cần gắn với tài chính toàn diện, qua đó mở rộng cơ hội tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nam A Bank gần đây tiếp nhận thêm 20 triệu USD từ BlueOrchard, tổ chức đầu tư có trụ sở tại Thụy Sĩ, trong khuôn khổ hợp tác hướng đến khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo ông Hải, để dòng vốn đến được nhiều doanh nghiệp hơn, Thành phố cần hình thành danh mục dự án rõ ràng, thống nhất tiêu chí và chuẩn hóa dữ liệu; đồng thời các ngân hàng, quỹ đầu tư và hiệp hội cần hỗ trợ doanh nghiệp minh bạch tài chính, đo lường phát thải, đánh giá hiệu quả và quản trị rủi ro.
Theo các ngân hàng thương mại tại TP Hồ Chí Minh, khơi thông nguồn lực không đồng nghĩa với mở rộng tín dụng bằng mọi giá. Dòng vốn cần có kỳ hạn, chi phí phù hợp và được phân bổ đến những dự án có khả năng tạo giá trị lâu dài.
Bên cạnh tín dụng ngân hàng, doanh nghiệp cần tăng khả năng tiếp cận thị trường cổ phiếu, trái phiếu, nguồn vốn quốc tế và các công cụ tài chính xanh. Việc đa dạng hóa kênh huy động sẽ giảm áp lực lên tín dụng ngân hàng, đồng thời tạo thêm nguồn lực cho đầu tư dài hạn và mục tiêu tăng trưởng hai con số của TP Hồ Chí Minh.