Trong bối cảnh diện tích nuôi trồng thủy sản trên đất liền gần như đã tới hạn, nhiều chuyên gia cho rằng "cánh đồng cuối cùng" của Việt Nam không nằm trên đất mà ở ngoài biển. Tuy nhiên, giữa tiềm năng rất lớn và thực tế phát triển vẫn còn khoảng cách đáng kể khi nghề nuôi biển vẫn chủ yếu dựa vào mô hình thủ công, quy mô nhỏ và chưa hình thành chuỗi giá trị hiện đại.
Dư địa từ “cánh đồng cuối cùng”
Xã Núi Thành (thành phố Đà Nẵng) tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, nuôi trồng thủy sản, đánh bắt hải sản gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Ảnh: Quốc Dũng/TTXVN
Liên Hợp Quốc từng gọi thế kỷ XXI là "thế kỷ của biển và đại dương", trong đó canh tác biển được xem là “cánh đồng cuối cùng” của hành tinh.
Theo ông Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, với hơn 3.260 km bờ biển, trên 1 triệu km² vùng đặc quyền kinh tế cùng hơn 4.000 hòn đảo lớn nhỏ, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có lợi thế hàng đầu khu vực để phát triển nuôi biển quy mô lớn. So với chăn nuôi trên cạn, nuôi biển mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường vượt trội, năng suất cao hơn lại ít gây hại cho môi trường.
Theo tính toán của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc, các quốc gia có biển có thể sử dụng ít nhất 0,1% diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế của mình để nuôi cá biển với năng suất trung bình 9.000 – 12.000 tấn/km2/năm. Điều đó đồng nghĩa Việt Nam có thể nuôi ít nhất 10 triệu tấn cá biển mỗi năm, chưa kể hàng triệu tấn nhuyễn thể và rong biển.
"Khi dư địa nuôi trồng trên đất liền gần như không còn, đại dương chính là cánh đồng cuối cùng để tạo động lực tăng trưởng mới. Nuôi biển công nghiệp không chỉ tạo ra thủy sản mà còn có thể kết hợp với du lịch, điện gió ngoài khơi, dầu khí và nhiều ngành kinh tế biển khác để khai thác hiệu quả không gian biển", ông Nguyễn Hữu Dũng chia sẻ.
Theo đại diện Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, nuôi biển không chỉ là nuôi cá hay nuôi tôm, mà còn là "nuôi nước", tức là nuôi dưỡng môi trường, hệ sinh thái và nguồn tài nguyên biển, từ đó tạo ra nguồn thực phẩm và giá trị xuất khẩu, mở ra không gian tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
Đặc biệt, sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, cả nước hiện có 21 tỉnh, thành phố giáp biển. Riêng TP. Hồ Chí Minh với không gian biển mở rộng từ Cần Giờ đến Côn Đảo có dư địa rất lớn để phát triển kinh tế biển, từ cảng biển, logistics, du lịch đến nuôi biển công nghiệp.
Theo bà Nguyễn Thị Hải Bình, Tổng Giám đốc STP Group, Thành phố đang có điều kiện để quy hoạch nghề nuôi biển theo hướng hiện đại ngay từ đầu. Đặc biệt khu vực Côn Đảo có môi trường biển còn rất tốt, hệ sinh thái đa dạng và lượng khách du lịch lớn, phù hợp để phát triển mô hình nuôi biển công nghệ cao kết hợp du lịch trải nghiệm.
"Chúng tôi đang đề xuất phát triển vùng nuôi biển khoảng 100 ha tại Côn Đảo theo hướng xây dựng chuỗi giá trị khép kín, gắn nuôi biển với du lịch và chuỗi giá trị bền vững, vừa tạo sinh kế bền vững cho người dân, vừa hình thành điểm đến trải nghiệm nghề nuôi biển. Đây sẽ không chỉ là mô hình sản xuất mà còn là mô hình bảo vệ môi trường, bảo vệ biển đảo", bà Hải Bình chia sẻ.
Để làm được điều này, đại diện STP Group cho rằng, quy hoạch nuôi biển cần được thực hiện đồng thời với quy hoạch du lịch, điện gió ngoài khơi và các ngành kinh tế biển khác để tránh xung đột trong sử dụng không gian biển.
Thay đổi tư duy từ khai thác sang canh tác biển
Nuôi tôm công nghiệp ở xã An Thới Đông (Thành phố Hồ Chí Minh). Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN
Dù nghề nuôi biển đã có mặt tại toàn bộ 21 tỉnh, thành ven biển nhưng phần lớn vẫn tập trung ở vùng ven bờ. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cả nước hiện có hơn 6.500 cơ sở nuôi cá biển ven bờ với khoảng 244.000 lồng bè; khu vực gần bờ có hơn 900 cơ sở, trong khi nuôi biển xa bờ mới chỉ có 27 cơ sở với 137 lồng bè.
Theo ông Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, đây là điểm nghẽn lớn khi phần lớn vùng ven bờ đang chịu áp lực rất lớn về môi trường, dịch bệnh và xung đột không gian với du lịch, cảng biển cũng như các hoạt động kinh tế khác.
Không chỉ vậy, nghề nuôi biển còn đối mặt với hàng loạt hạn chế như lồng bè chủ yếu làm bằng gỗ, tre; nguồn giống phụ thuộc nhập khẩu; sử dụng thức ăn tươi gây ô nhiễm; thiếu chuỗi liên kết từ con giống, thức ăn đến chế biến và tiêu thụ.
“Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở phương thức tổ chức sản xuất. Nếu vẫn nuôi nhỏ lẻ, ven bờ, thiếu quy hoạch và thiếu chuỗi giá trị thì rất khó tạo ra bước đột phá", ông Dũng nhấn mạnh.
Do đó, để chuyển đổi từ nuôi ven bờ sang nuôi biển công nghiệp, hạ tầng và công nghệ là điều kiện tiên quyết.
Theo ông Trần Thanh Trí, Quản lý kinh doanh khu vực miền Nam STP Group, phần lớn lồng bè hiện nay vẫn làm bằng gỗ nên tuổi thọ thấp, dễ hư hỏng khi gặp bão lớn và chi phí bảo dưỡng cao. Trong khi đó, lồng nuôi HDPE có tuổi thọ khoảng 50 năm, chịu sóng gió tốt hơn và tạo điều kiện để người nuôi vươn ra vùng biển xa.
Không chỉ thay đổi vật liệu, doanh nghiệp còn tích hợp các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, quan trắc môi trường tự động, cảnh báo sớm, truy xuất nguồn gốc và giám sát lồng bè nhằm giảm rủi ro, nâng cao hiệu quả sản xuất.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Phương Đông, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Công nghiệp Sài Gòn cho rằng, việc chuyển sang các vật liệu bền vững, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường sẽ không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn tạo điều kiện để sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu.
"Hiện nay chúng tôi đã nghiên cứu và đưa ra thị trường nhiều mô hình nuôi biển hiện đại. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục phát triển các dòng sản phẩm phục vụ hạ tầng biển, đồng thời mở rộng hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ để đáp ứng nhu cầu phát triển nuôi biển của TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam", ông Nguyễn Phương Đông cho biết.
Cùng với gỡ nút thắt về hạ tầng, Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam cho rằng, cần tiếp tục tháo gỡ rào cản về chính sách giao biển cho ngư dân, tín dụng dài hạn và bảo hiểm nuôi biển, từ đó mới khuyến khích doanh nghiệp đầu tư quy mô lớn, hình thành các trang trại nuôi biển công nghiệp ngoài khơi.
Bên cạnh đó, cần triển khai các nhóm giải pháp về quy hoạch không gian biển, xây dựng làng nuôi biển hiện đại, đào tạo nhân lực và hoàn thiện chuỗi giá trị từ con giống, thức ăn đến logistics, chế biến và xuất khẩu.
Để công nghiệp hoá nghề nuôi biển, cần phân vùng sản xuất tập trung cho từng nhóm đối tượng nuôi trồng cụ thể căn cứ trên điều kiện tự nhiên của các khu vực biển, tạo vùng sản xuất khối lượng hàng hóa lớn, đồng nhất về chất lượng, tiêu chuẩn quốc tế; thiết lập các làng nuôi biển hiện đại; gắn nuôi biển với du lịch, điện gió và các ngành kinh tế biển khác…
"Đã đến lúc phải thay đổi tư duy phát triển nghề nuôi biển, phải chuyển từ tư duy khai thác sang canh tác biển, nuôi dưỡng môi trường, hệ sinh thái và các giá trị tự nhiên. Đây là nền tảng để Việt Nam khai thác dư địa trong mục tiêu tăng trưởng hai con số", ông Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam nhấn mạnh.
Riêng TP. Hồ Chí Minh, với lợi thế kết nối cảng biển, công nghiệp chế tạo, logistics và khoa học công nghệ, đây được kỳ vọng không chỉ phát triển vùng nuôi mà còn trở thành trung tâm sản xuất thiết bị, vật tư, dịch vụ hậu cần và chuyển giao công nghệ, thúc đẩy phát triển ngành nuôi biển khu vực phía Nam.
Đại dương không chỉ là không gian để khai thác nguồn lợi tự nhiên mà đang trở thành không gian sản xuất mới của nền kinh tế. Khi chuyển từ tư duy "khai thác" sang "canh tác", từ "nuôi ven bờ" sang "vươn ra đại dương", Việt Nam không chỉ mở thêm dư địa tăng trưởng cho ngành thủy sản mà còn từng bước hình thành một nền kinh tế biển hiện đại, xanh và bền vững. Đó cũng là con đường để biến lợi thế biển thành sức mạnh phát triển quốc gia trong giai đoạn mới.