Khi mặt bằng lãi suất huy động vượt 9%/năm, lãi suất cho vay mua nhà thả nổi lên tới 13-15%/năm, khả năng trả nợ của doanh nghiệp và người dân đang chịu sức ép lớn hơn, buộc các ngân hàng phải giải bài toán khó - vừa mở rộng tín dụng hỗ trợ tăng trưởng, vừa bảo vệ chất lượng tài sản.
Khách hàng giao dịch tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) Chi nhánh Lào Cai. Ảnh minh họa: Quốc Khánh/TTXVN
Sự phân hóa đã xuất hiện
Nửa đầu năm 2026 chứng kiến tín dụng tăng trưởng mạnh mẽ. Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 29/6, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 20,03 triệu tỷ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025, tương đương khoảng 1,4 triệu tỷ đồng được bổ sung vào nền kinh tế chỉ sau 6 tháng. Trong đó, khoảng 77% dư nợ tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; tín dụng xuất khẩu tăng 20,53%, doanh nghiệp công nghệ cao tăng 26,36%, cho thấy dòng vốn vẫn đang chảy vào các lĩnh vực ưu tiên.
Tuy nhiên, đằng sau bức tranh tăng trưởng tín dụng và lợi nhuận khả quan của nhiều ngân hàng là những dấu hiệu cho thấy áp lực đối với chất lượng tài sản đang tăng dần. Đây cũng là yếu tố được giới phân tích đặc biệt quan tâm khi bước sang nửa cuối năm.
Báo cáo kết quả kinh doanh sơ bộ 6 tháng đầu năm của nhiều ngân hàng cho thấy bức tranh chất lượng tài sản vẫn tương đối khả quan, song sự phân hóa đã bắt đầu rõ nét.
Cụ thể, Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) ước duy trì tỷ lệ nợ xấu chỉ 0,55%; Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) tiếp tục giữ tỷ lệ nợ xấu dưới 1%; Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) kiểm soát ở mức 1,13%; Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) duy trì dưới 1,5%; Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam (MSB) ghi nhận tỷ lệ nợ xấu riêng lẻ 1,64%, hợp nhất 1,83%; Ngân hàng TMCP Thịnh vượng và Phát triển (PGBank) ở mức 1,87%. Trong khi đó, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) cho biết tỷ lệ nợ xấu riêng lẻ duy trì quanh 2%, thấp hơn mục tiêu 2,5%, còn tỷ lệ hợp nhất dưới 3%.
Tuy chưa có đầy đủ số liệu của các ngân hàng trong nửa đầu năm, song phần lớn đều nhấn mạnh mục tiêu duy trì chất lượng tài sản và các chỉ tiêu an toàn. Chẳng hạn, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín (Vietbank) tiếp tục đặt mục tiêu kiểm soát nợ xấu dưới 2,5% trong năm 2026, trong khi Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) cho biết vẫn ưu tiên đảm bảo thanh khoản và chất lượng tín dụng trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế tiếp tục gia tăng.
Ở chiều ngược lại, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Tài Lộc (Sacombank) là trường hợp gây chú ý nhất khi ước tính tỷ lệ nợ xấu có thể tăng lên 5,6%. Điều này buộc ngân hàng phải dự kiến trích lập dự phòng rủi ro hơn 4.700 tỷ đồng, thuộc nhóm cao nhất hệ thống, khiến lợi nhuận trước thuế 6 tháng sau dự phòng có thể chỉ còn khoảng 1.900-2.000 tỷ đồng, giảm gần 50% so với cùng kỳ. Theo lãnh đạo Sacombank, quy mô dư nợ thuộc nhóm có khả năng mất vốn vẫn có thể tiếp tục gia tăng trong quý III.
Sự chênh lệch giữa các ngân hàng phản ánh khả năng quản trị rủi ro và sức chống chịu khác nhau trước bối cảnh chi phí vốn gia tăng.
Ở quy mô toàn hệ thống, số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy đến cuối tháng 5/2026, tỷ lệ nợ xấu nội bảng ở mức 3,43%. Nếu loại trừ 5 ngân hàng đang trong diện xử lý đặc biệt, tỷ lệ này còn 1,55%.
Trong khi đó, tỷ lệ nợ xấu gộp, bao gồm nợ nội bảng, nợ đã bán cho Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) nhưng chưa xử lý và các khoản nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu, ở mức 3,9%; nếu loại trừ 5 ngân hàng nêu trên còn 1,74%.
Điều đáng chú ý là áp lực từ mặt bằng lãi suất cao được dự báo sẽ bộc lộ rõ hơn trong nửa cuối năm, khi nhiều khoản vay bước vào giai đoạn điều chỉnh lãi suất và khả năng trả nợ của doanh nghiệp, người dân tiếp tục chịu tác động.
Sức ép lên chất lượng tài sản
Bước sang nửa cuối năm, chất lượng tín dụng được dự báo sẽ chịu tác động đồng thời từ nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao, thanh khoản thị trường bất động sản phục hồi chậm và tiến độ xử lý nợ xấu chưa thực sự cải thiện.
Thực tế, mặt bằng lãi suất đang có tín hiệu tăng trở lại. Lãi suất huy động tại một số ngân hàng vượt 9%/năm, kéo theo lãi suất cho vay doanh nghiệp phổ biến trên 10%/năm, còn lãi suất thả nổi đối với các khoản vay mua nhà lên tới 13-15%/năm.
Với mức lãi suất khoảng 15%/năm, chỉ sau 5-6 năm, tổng số tiền lãi người vay phải trả có thể tương đương số tiền gốc ban đầu. Gánh nặng trả nợ gia tăng khiến nhiều khách hàng, đặc biệt là người vay mua nhà, gặp khó khăn hơn trong việc cân đối dòng tiền.
Trong bối cảnh đó, các chuyên gia cho rằng lĩnh vực bất động sản có thể là nhóm chịu tác động sớm do vừa chịu áp lực lãi vay, vừa đối mặt với thanh khoản thị trường chưa phục hồi hoàn toàn. Nếu tình trạng này kéo dài, nguy cơ phát sinh nợ xấu mới có thể gia tăng và ảnh hưởng đến chất lượng tài sản của các tổ chức tín dụng.
Diễn biến trên thị trường xử lý tài sản bảo đảm phần nào phản ánh áp lực này. Chỉ trong 10 ngày đầu tháng 7, Vietcombank công bố khoảng 20-30 thông báo liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm. Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), VietinBank, MSB, Agribank và Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank) cũng liên tục rao bán tài sản thế chấp hoặc các khoản nợ nhằm đẩy nhanh quá trình thu hồi vốn.
TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, cho rằng rủi ro nợ xấu có thể gia tăng khi doanh nghiệp tiếp tục chịu tác động từ bất ổn địa chính trị, chi phí đầu vào tăng và mặt bằng lãi suất cao hơn. Đặc biệt, sự chững lại của phân khúc bất động sản cao cấp không chỉ ảnh hưởng đến thanh khoản thị trường mà còn tác động tới khả năng trả nợ của khách hàng và giá trị tài sản bảo đảm của các ngân hàng.
Cùng quan điểm, Chuyên gia kinh tế TS. Nguyễn Trí Hiếu nhận định, mặt bằng lãi suất hiện nay đã vượt quá khả năng chịu đựng của nhiều khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, làm gia tăng nguy cơ phát sinh nợ xấu, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản.
Ông Đào Minh Tú, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, cho biết ngành ngân hàng đang đối mặt với tình trạng mất cân đối giữa huy động và cho vay khi nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng nhanh hơn tốc độ huy động. Theo Ngân hàng Nhà nước, bình quân 5 năm qua, tăng trưởng tín dụng cao hơn tăng trưởng huy động khoảng 3,8%, trong khi tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng vốn huy động (LDR) toàn hệ thống ở mức 111-112%. Đây là một trong những nguyên nhân khiến lãi suất huy động tăng mạnh từ cuối năm 2025 đến nay.
Bên cạnh áp lực phát sinh nợ xấu mới, tốc độ xử lý nợ xấu hiện hữu cũng đang chậm lại. Trong 5 tháng đầu năm 2026, các tổ chức tín dụng xử lý được 90,15 nghìn tỷ đồng nợ xấu, giảm 24,3% so với cùng kỳ năm trước. Việc Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng đã hết hiệu lực, trong khi quá trình hoàn thiện hành lang pháp lý còn chưa đầy đủ, khiến việc xử lý tài sản bảo đảm kéo dài và ảnh hưởng đến tiến độ thu hồi nợ.
Để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15% trong năm 2026, đồng thời điều chỉnh tăng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, qua đó tạo thêm dư địa cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, cơ quan quản lý cũng nhiều lần khẳng định việc mở rộng dư địa tín dụng không đồng nghĩa với nới lỏng chất lượng tín dụng. Quan điểm điều hành xuyên suốt là không đánh đổi rủi ro lấy tăng trưởng, vì vậy các tổ chức tín dụng vẫn phải tuân thủ chặt chẽ quy trình thẩm định, quản trị rủi ro và kiểm soát chất lượng tài sản.
Theo đánh giá của Công ty TNHH Chứng khoán Vietcombank (VCBS), rủi ro nợ xấu của hệ thống ngân hàng trong năm 2026 cần tiếp tục được theo dõi chặt chẽ, đặc biệt tại những ngân hàng có tỷ trọng cho vay kinh doanh bất động sản lớn. Trong bối cảnh lãi suất vẫn ở mức cao và thị trường bất động sản chưa thực sự hồi phục, chất lượng tài sản sẽ là yếu tố quyết định triển vọng lợi nhuận của ngành ngân hàng trong nửa cuối năm, hơn cả tốc độ tăng trưởng tín dụng.