Đánh thức nguồn lực di sản trong kỷ nguyên số

Số hóa đang mở ra cơ hội mới để bảo tồn và khai thác giá trị di sản văn hóa. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở việc lưu trữ dữ liệu, di sản khó trở thành động lực phát triển. Theo các chuyên gia, TP Hồ Chí Minh cần xây dựng hệ sinh thái dữ liệu di sản liên thông để kết nối văn hóa, du lịch, giáo dục và các ngành công nghiệp sáng tạo.

Số hóa để di sản tiếp tục "sống"

Trong bối cảnh chuyển đổi số, yêu cầu đặt ra không chỉ là bảo tồn di sản mà còn khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa thông qua dữ liệu. Khi được số hóa và kết nối, di sản có thể phục vụ nghiên cứu, giáo dục, du lịch và trở thành nguồn lực cho phát triển kinh tế sáng tạo.

Chú thích ảnh
Nhiều chuyên gia chia sẻ về việc số hóa kiến trúc di sản tại TP Hồ Chí Minh.

TP Hồ Chí Minh hiện có 314 di tích được xếp hạng, 23 bảo vật quốc gia, 23 bảo tàng và 3 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh. Thành phố cũng đang hoàn thiện hồ sơ đề cử Địa đạo Củ Chi trình UNESCO xem xét ghi danh Di sản thế giới. Trong khi cả nước có khoảng 40.000 di tích và hơn 4 triệu hiện vật, số hóa được xem là giải pháp quan trọng để bảo tồn lâu dài và mở rộng khả năng tiếp cận di sản.

Theo TS Nguyễn Thị Hậu, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử TP Hồ Chí Minh, nhiều quốc gia đã chuyển từ mô hình bảo tồn truyền thống sang quản trị di sản dựa trên dữ liệu. Nếu trước đây bảo tàng chủ yếu thực hiện ba chức năng bảo tồn, nghiên cứu và trưng bày thì nay, dữ liệu trở thành nền tảng để kết nối, chia sẻ và sáng tạo giá trị. Di sản vì thế không chỉ là đối tượng cần bảo tồn mà còn là nguồn lực phục vụ phát triển.

Bà Hậu cho rằng, số hóa không đơn thuần là giải pháp kỹ thuật mà đang trở thành một mô hình quản trị mới đối với di sản. TP Hồ Chí Minh có lợi thế lớn với hệ thống di sản đa dạng, từ khảo cổ học, kiến trúc đô thị, công trình tôn giáo, di sản công nghiệp đến không gian Chợ Lớn và các loại hình di sản phi vật thể như lễ hội, nghệ thuật trình diễn, nghề thủ công, tri thức dân gian. Đây là nguồn tài nguyên văn hóa giàu tiềm năng để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa nếu được số hóa và khai thác hiệu quả. 

Tuy nhiên, theo Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử TP Hồ Chí Minh, số hóa ở Việt Nam vẫn chủ yếu dừng ở việc xây dựng dữ liệu hoặc số hóa từng hiện vật riêng lẻ. Điều cần hướng tới là hình thành hệ sinh thái dữ liệu mở, giúp di sản kết nối với giáo dục, du lịch và các ngành công nghiệp sáng tạo, thay vì chỉ hiện diện trong kho lưu trữ hay không gian trưng bày.

Chú thích ảnh
Không gian trưng bày giới thiệu nghệ thuật truyền thống hát bội đến với công chúng.

Ở góc độ bảo tàng, TS Mã Thanh Cao, nguyên Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh, cho rằng số hóa không đơn thuần là quét hình ảnh hay đưa hiện vật lên môi trường số. Quan trọng hơn là xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học, đầy đủ ngữ cảnh lịch sử và giá trị văn hóa để phục vụ nghiên cứu, giáo dục và sáng tạo.

Theo bà Cao, việc số hóa cần có sự phối hợp giữa các bảo tàng, viện nghiên cứu và trường đại học nhằm bảo đảm tính chính xác của dữ liệu. Hiện nay, nhiều bảo tàng tại TP Hồ Chí Minh đã bước đầu ứng dụng công nghệ như tham quan 3D, thực tế ảo, hologram hay số hóa bảo vật quốc gia. Tuy nhiên, khoảng trống hiện nay lại nằm ở di sản phi vật thể. Các loại hình như cải lương, hát bội, đờn ca tài tử hay nghề thủ công cần được ghi hình, ghi âm và lưu trữ kịp thời trước nguy cơ mai một.

Xây hệ sinh thái dữ liệu di sản

Để số hóa thực sự phát huy hiệu quả, theo các chuyên gia, điều quan trọng không phải là tạo ra bao nhiêu dữ liệu mà là xây dựng một hệ sinh thái có khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu phục vụ phát triển văn hóa.

Chú thích ảnh
Các chuyên gia nhà nghiên cứu và câu chuyện về số hóa di sản.

TS Trịnh Đăng Khoa, Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh, cho rằng cần phân biệt rõ giữa “số hóa” và “chuyển đổi số”. Số hóa chỉ là một công đoạn, còn mục tiêu cuối cùng là sử dụng dữ liệu để đổi mới phương thức quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Theo ông, di sản vật thể và phi vật thể cần có cách tiếp cận khác nhau. Bên cạnh hạ tầng công nghệ, Thành phố cần sớm xây dựng bộ tiêu chuẩn dữ liệu chung để bảo đảm khả năng liên thông giữa các đơn vị, đồng thời phát huy vai trò của cộng đồng - chủ thể sáng tạo và gìn giữ di sản.

Thực tế, quá trình số hóa di sản tại TP Hồ Chí Minh vẫn đối mặt với nhiều khó khăn như dữ liệu phân tán, thiếu nhân lực am hiểu cả công nghệ lẫn văn hóa, kinh phí còn hạn chế và chưa có cơ chế hiệu quả để huy động doanh nghiệp tham gia. Những “điểm nghẽn” này khiến nhiều dự án mới dừng ở việc lưu trữ, chưa tạo được giá trị gia tăng cho văn hóa và kinh tế sáng tạo.

Chú thích ảnh
Các em nhỏ tương tác, tìm hiểu về nghệ thuật hát bội qua tranh vẽ.

Theo TS Nguyễn Thị Hậu, một trong những giải pháp cần ưu tiên là xây dựng Ngân hàng dữ liệu di sản số (Digital Heritage Bank), từng bước kết nối dữ liệu về di tích, hiện vật, tư liệu lịch sử, báo chí và các nguồn lưu trữ đang phân tán tại nhiều cơ quan. Cơ sở dữ liệu này cần được vận hành như một nền tảng tài nguyên mở, cung cấp chất liệu cho điện ảnh, thiết kế, kiến trúc, thời trang, trò chơi điện tử và các ngành công nghiệp sáng tạo.

Cùng với đó, TP Hồ Chí Minh cần phát triển hệ thống bảo tàng thông minh ứng dụng thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), mô hình 3D và thuyết minh đa phương tiện. Một bảo tàng số về lịch sử đô thị TP Hồ Chí Minh, tích hợp hình ảnh, bản đồ, tư liệu và mô hình số, sẽ giúp công chúng tiếp cận di sản theo cách trực quan và sinh động hơn.

Ở góc độ kinh tế số, TS Trần Quý, Viện trưởng Viện Phát triển Kinh tế số Việt Nam, cho rằng dữ liệu văn hóa chỉ tạo ra giá trị khi được khai thác trên bốn phương diện: Bảo tồn, quản trị, nâng cao trải nghiệm công chúng và phát triển kinh tế. Muốn vậy, Thành phố cần chuẩn hóa dữ liệu, hoàn thiện cơ chế chia sẻ, giải quyết vấn đề bản quyền và hình thành hệ sinh thái kết nối giữa cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và cộng đồng.

Chú thích ảnh
Các bạn trẻ hào hứng với cách làm mới di sản.

Việc ứng dụng AI trong phục dựng các vở cải lương kinh điển như Tiếng trống Mê Linh cho thấy, công nghệ có thể hỗ trợ bảo tồn và lan tỏa giá trị di sản. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, AI chỉ đóng vai trò công cụ; quá trình phục dựng vẫn cần sự tham gia của nghệ sĩ và nhà nghiên cứu để bảo đảm tính xác thực của tư liệu gốc và giá trị nguyên bản của di sản.

Thực tế cho thấy, sau thành công của dự án này, nhiều khán giả đã chủ động cung cấp thêm các bản ghi hình lưu giữ nhiều năm để hỗ trợ công tác phục dựng, trong đó có tác phẩm Đời cô Lựu và một số vở sân khấu kinh điển khác.

Các chuyên gia văn hóa khẳng định, số hóa không phải đích đến của công tác bảo tồn mà là điểm khởi đầu để mở rộng không gian sống của di sản trong thời đại số. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, liên thông và khai thác hiệu quả, di sản sẽ không chỉ được gìn giữ cho các thế hệ sau mà còn trở thành nguồn lực mới cho giáo dục, du lịch và công nghiệp văn hóa, góp phần tạo động lực phát triển bền vững cho TP Hồ Chí Minh.

Bài, ảnh: Hương Trần/Báo Tin tức và Dân tộc
Di sản vun đắp sức mạnh cộng đồng, khơi nguồn phát triển văn hóa
Di sản vun đắp sức mạnh cộng đồng, khơi nguồn phát triển văn hóa

Giữa nhịp sống hiện đại, khi nhiều giá trị truyền thống đang đứng trước những thách thức của quá trình đô thị hóa và toàn cầu hóa, tục kết chạ - một phong tục có từ hàng trăm, hàng nghìn năm ở nhiều làng quê Bắc Bộ - vẫn được gìn giữ như một biểu tượng của tinh thần đoàn kết, nghĩa tình và gắn kết cộng đồng.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN