Giám đốc Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia: Cơ chế tài chính rất thông thoáng

Sau khi hợp nhất, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia tiếp tục hỗ trợ nghiên cứu cơ bản và mở rộng sang nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Sau khi được tổ chức lại trên cơ sở hợp nhất 3 đơn vị: Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED), Văn phòng các Chương trình trọng điểm cấp nhà nước, Văn phòng các Chương trình khoa học và công nghệ quốc gia thành Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia, NAFOSTED không chỉ tiếp tục hỗ trợ nghiên cứu cơ bản mà còn mở rộng sang nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo, góp phần phát triển hệ sinh thái khoa học và công nghệ.

Chú thích ảnh
PGS.TS Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia (NAFOSTED). Ảnh: nafosted.gov.vn

Dự thảo Nghị định quy định tổ chức và hoạt động của NAFOSTED đang được lấy ý kiến với nhiều đề xuất nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao tính độc lập, minh bạch và hiệu quả tài trợ nghiên cứu. 

Phóng viên TTXVN đã có cuộc trao đổi với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia xung quanh nội dung này.

Thưa ông, Dự thảo Nghị định sẽ có những điểm đổi mới nào nhằm nâng cao hiệu quả tài trợ nghiên cứu, đồng thời tăng cường vai trò kết nối cộng đồng khoa học trong nước và quốc tế?

Những điểm đổi mới của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đều được cụ thể hóa trong dự thảo Nghị định lần này. Đặc biệt, dự thảo quán triệt sâu sắc chủ trương, quan điểm của Đại hội XIV của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực chủ yếu của phát triển đất nước, xác lập mô hình tăng trưởng mới gắn với tăng trưởng 2 con số. Dự thảo Nghị định đã nêu rõ mục tiêu hoạt động là định hình mô hình quỹ tài trợ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ bảo đảm tính độc lập, minh bạch, cạnh tranh theo chuẩn mực quốc tế. 

Một trong những điểm mới nổi bật của dự thảo là cơ chế tài chính được thiết kế theo hướng thông thoáng hơn, chuyển từ quản lý theo đầu vào sang đánh giá theo kết quả đầu ra. Quỹ được giao kinh phí theo tổng mức và không kèm theo danh mục nhiệm vụ cụ thể tại thời điểm giao dự toán và cấp kinh phí cho Quỹ, làm cơ sở để Quỹ chủ động xây dựng, phê duyệt nhiệm vụ và tổ chức thực hiện tài trợ, đặt hàng, hỗ trợ theo thẩm quyền, bảo đảm phù hợp với mục tiêu, định hướng ưu tiên và cơ cấu phân bổ đã được xác định. 

Quỹ cũng thực hiện quản lý hoạt động tài trợ, đặt hàng, hỗ trợ dựa trên kết quả và tác động đầu ra; bảo đảm hài hoà giữa nghiên cứu có tính kế thừa, rủi ro thấp với nghiên cứu có tính tiên phong, đột phá, rủi ro cao; chấp nhận rủi ro khoa học, rủi ro công nghệ trong phạm vi có kiểm soát, bảo đảm khuyến khích sáng tạo và đổi mới; tôn trọng quy luật khách quan và đặc thù của hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo…

Như vậy, hoạt động tài trợ có sự hài hòa giữa nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng. Nghiên cứu cơ bản có tính tiên phong, đột phá, rủi ro cao, do đó có quy định được xét khoán chi trong khi nghiên cứu ứng dụng có kết quả cụ thể sẽ được tài trợ theo hướng cấp kinh phí  cho từng mốc kết quả chứ không theo gói ngân sách hoặc tiến độ hợp đồng. Đề tài thực hiện đến giai đoạn nào sẽ được trình kết quả, có báo cáo đầy đủ và duyệt cấp kinh phí cho giai đoạn tiếp theo.

Các nhiệm vụ khoa học, công nghệ được tài trợ sẽ không còn nặng về kiểm soát chứng từ mà tập trung đánh giá hiệu quả, lấy tác động thực tiễn làm tiêu chí tài trợ. Những quy định mới này sẽ giúp tăng tính chủ động cho Quỹ thông qua việc phân bổ ngân sách theo tổng mức, thay vì cấp theo từng đợt như trước đây. Khi được giao một mức kinh phí ổn định, Quỹ có thể linh hoạt điều chỉnh, kịp thời đáp ứng các nhu cầu phát sinh, kể cả các nhiệm vụ đột xuất, qua đó nâng cao hiệu quả và tính kịp thời trong tài trợ. 

Cơ chế quản trị rủi ro trong hoạt động tài trợ được quy định như thế nào tại dự thảo Nghị định, thưa ông?

Quản trị rủi ro được đặt ra ngay từ khâu xét chọn nhiệm vụ. Mỗi đề tài khi đề xuất sẽ được đánh giá mức độ rủi ro thông qua ý kiến tư vấn của các hội đồng khoa học. Tại Chương 6 “Quản trị rủi ro” trong dự thảo Nghị định đã quy định rõ về trách nhiệm quản trị rủi ro của tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do Quỹ tài trợ, đặt hàng cũng như nội dung quản trị rủi ro của Quỹ. Cụ thể, khi nhận được báo cáo của tổ chức chủ trì và cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do Quỹ tài trợ, đặt hàng về việc phát sinh rủi ro, Quỹ thực hiện các biện pháp kiểm tra, đánh giá đột xuất để xem xét khả năng ứng phó và khắc phục hậu quả, xác định nguyên nhân, mức độ tác động của rủi ro. Trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu gian lận, cố ý vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Quỹ báo cáo và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật…

Tuy nhiên, quan điểm xuyên suốt của chúng tôi là chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Trong trường hợp nhiệm vụ không đạt kết quả cuối cùng, nếu tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy trình chuyên môn, quy định quản lý và bảo đảm minh bạch, thì sẽ được xem xét miễn trách nhiệm hành chính và không thu hồi kinh phí theo quy định hiện hành. 

Về chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học, dự thảo Nghị định có những cơ chế hỗ trợ mới nào, thưa ông? 

Dự thảo dành một chương riêng-Chương IV “Hỗ trợ hoạt động nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia” với nội dung nâng cao năng lực đội ngũ khoa học và công nghệ. Đặc biệt, các nhà khoa học trẻ, những người có tiềm năng, trình độ cao sẽ được hưởng nhiều hình thức hỗ trợ thiết thực như: Kinh phí tham gia thực tập, nghiên cứu ngắn hạn ở nước ngoài; hoạt động nghiên cứu của nghiên cứu viên sau tiến sĩ; hoạt động nghiên cứu của nghiên cứu sinh chương trình đào tạo tiến sĩ và học viên của chương trình đào tạo thạc sĩ;; mời nhà khoa học xuất sắc nước ngoài đến Việt Nam trao đổi học thuật ngắn hạn; hỗ trợ nhà khoa học trẻ tài năng, kỹ sư trẻ tài năng… Đáng chú ý, Dự thảo bổ sung quy định về hoạt động nghiên cứu của nhà khoa học xuất sắc có thành tích nổi bật trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ nhằm tạo điều kiện cho các nhóm nghiên cứu mạnh phát triển, từ đó nâng cao tiềm lực của Việt Nam trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; nâng tầm vị thế ngành khoa học công nghệ của Việt Nam trên trường quốc tế. 

Một điểm mới quan trọng được dự thảo nêu rõ tại điều 26 “Hỗ trợ hoạt động kiểm chứng công nghệ” - chương IV nhằm đánh giá tính khả thi về khoa học, kỹ thuật, hoàn thiện dữ liệu kiểm chứng và đáp ứng yêu cầu sẵn sàng công nghệ đối với giai đoạn hoàn thiện hoặc chuyển giao công nghệ. Đây là một bước quan trọng trước startup (còn gọi là pre-startup), là giai đoạn chuyển tiếp trước khi hình thành doanh nghiệp khởi nghiệp. Một nhóm nghiên cứu trẻ có ý tưởng rất sáng tạo nhưng chưa hình thành được sản phẩm. Nếu được kiểm chứng về tính ứng dụng, thiết thực của ý tưởng này và được tài trợ kinh phí hoàn thiện sản phẩm, rất có thể đó sẽ là khởi đầu cho một doanh nghiệp startup thành công. Trên thế giới có rất nhiều doanh nghiệp startup thành công, trong đó có cả những kì lân công nghệ đã hình thành từ bước này.

Xin trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Chiến.

Thu Phương/TTXVN (thực hiện)
Thu hút nhân tài toàn cầu tạo đột phá khoa học công nghệ: Câu chuyện từ Canada
Thu hút nhân tài toàn cầu tạo đột phá khoa học công nghệ: Câu chuyện từ Canada

Canada đã xây dựng được một mô hình thu hút nhân tài toàn cầu mang tính hệ thống, trong đó chính sách nhập cư được thiết kế như một công cụ chiến lược để thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, qua đó tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn trong nền kinh tế tri thức.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN