Người dân và du khách tham gia Tết té nước của đồng bào Lào ở Điện Biên. Ảnh tư liệu: Trung Kiên/TTXVN
Bảo tồn di sản văn hóa dân tộc
Theo Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Trịnh Thị Thủy, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, mỗi dân tộc mang trong mình những giá trị văn hóa đặc sắc, góp phần tạo nên nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc, thống nhất trong đa dạng. Văn hóa các dân tộc thiểu số không chỉ là di sản quý báu, còn là nguồn lực nội sinh quan trọng đối với sự phát triển bền vững đất nước.
Thông tin từ Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch) cho biết, những năm qua, đặc biệt là giai đoạn 2021-2025, công tác văn hóa dân tộc trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai một cách đồng bộ, bài bản, đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần khẳng định vai trò của văn hóa như một nền tảng tinh thần, đồng thời là động lực nội sinh thúc đẩy phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Bộ đã chủ động tham mưu hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách theo hướng ngày càng đồng bộ, cụ thể và sát thực tiễn, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.
Việc triển khai hiệu quả Dự án 6 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia đã đánh dấu bước chuyển rõ nét từ tư duy “bảo tồn tĩnh” sang “bảo tồn trong phát triển”, gắn di sản văn hóa với sinh kế và du lịch cộng đồng. Cùng với đó, hàng loạt đề án chuyên sâu về bảo tồn văn học dân gian, dân ca, dân vũ, dân nhạc; tổ chức ngày hội, liên hoan văn hóa dân tộc… được ban hành và triển khai đã góp phần cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.
Trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, nhiều kết quả cụ thể, có sức lan tỏa đã được ghi nhận. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức bảo tồn, phục dựng trên 30 lễ hội truyền thống tiêu biểu; xây dựng và vận hành 45 mô hình bảo tồn văn hóa gắn với phát triển du lịch; thành lập hơn 20 câu lạc bộ văn hóa dân gian tại cơ sở; triển khai 30 chương trình nghiên cứu bảo tồn văn hóa phi vật thể, trong đó có 7 chương trình dành cho các dân tộc rất ít người. Các sự kiện văn hóa quy mô quốc gia và khu vực như các ngày hội, liên hoan văn hóa dân tộc được tổ chức thường xuyên, bài bản, tạo không gian giao lưu, tôn vinh và quảng bá bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số. Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò “ngôi nhà chung”, thu hút gần 1 triệu lượt khách mỗi năm, qua đó lan tỏa giá trị văn hóa dân tộc đến đông đảo công chúng trong và ngoài nước.
Ở cấp địa phương, các tỉnh, thành phố cũng chủ động cụ thể hóa chủ trương, chính sách, đạt nhiều kết quả nổi bật. Hệ thống hạ tầng và thiết chế văn hóa được quan tâm đầu tư với 3.220 nhà văn hóa - khu thể thao thôn, bản được xây dựng mới hoặc cải tạo; 69 điểm du lịch tiêu biểu được hình thành; 48 làng, bản văn hóa truyền thống được bảo tồn và khai thác hiệu quả, từng bước trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng. Công tác bảo tồn di sản được triển khai rộng khắp với trên 150 lễ hội truyền thống được phục dựng; hơn 700 câu lạc bộ văn hóa dân gian và 5.760 đội văn nghệ quần chúng được duy trì hoạt động, tạo môi trường thực hành và trao truyền di sản ngay trong cộng đồng…
Những kết quả trên đã cho thấy sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các địa phương trong triển khai công tác dân tộc, góp phần giữ gìn, lan tỏa bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số.
Bảo tồn văn hóa gắn với phát triển du lịch
Thầy cúng làm lễ cầu bình an, sức khỏe, mùa màng cho người dân tại Lễ hội Gầu Tào. Ảnh tư liệu: Trọng Đạt/TTXVN
Không chỉ dừng lại ở ý nghĩa tinh thần, văn hóa các dân tộc thiểu số còn ngày càng khẳng định vai trò trong phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, trong lĩnh vực du lịch, những giá trị văn hóa độc đáo như lễ hội truyền thống, làn điệu dân ca, trang phục, nghề thủ công, tri thức bản địa… chính là những “tài nguyên mềm” độc đáo tạo nên sức hấp dẫn riêng có của Việt Nam.
Hiện nay, xu hướng du lịch văn hóa đang ngày càng hấp dẫn du khách trong và ngoài nước, việc gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch không chỉ giúp nâng cao giá trị của di sản mà còn tạo sinh kế bền vững cho người dân. Thực tế tại nhiều địa phương đã chứng minh hiệu quả của mô hình này.
Tại Lào Cai, các lễ hội truyền thống như lễ hội Gầu Tào của người Mông, lễ hội Nhảy lửa của người Dao đỏ hay lễ hội Xuống đồng của người Tày đã được tổ chức theo hướng vừa bảo tồn nghi thức truyền thống, thu hút du khách, góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế địa phương.
Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai Lại Hữu Hiệp cho biết, hằng năm, trên địa bàn tỉnh tổ chức trên 100 lễ hội truyền thống, nhiều lễ hội trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn như: Lễ hội Xuống đồng của người Tày, Nùng, Giáy; Lễ hội Gầu Tào của dân tộc Mông (xã Pha Long, xã Sín Chéng, xã Trạm Tấu); Lễ hội Nhảy lửa của người Dao Đỏ (xã Bắc Hà); Lễ hội Cốm của người Tày (xã Nghĩa Đô)… Các lễ hội được tổ chức theo hướng giữ gìn nghi thức truyền thống, giảm tính hình thức, tăng cường trải nghiệm văn hóa, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Trung bình mỗi lễ hội đầu xuân thu hút từ 3.000 đến 4.000 lượt người tham dự, đầu năm 2026, lễ hội Đền Thượng và Lễ hội Đền Đông Cuông thu hút gần 10.000 lượt nhân dân và du khách.
Tương tự, tại Lâm Đồng, việc phục dựng gần 100 lễ hội truyền thống và lựa chọn các lễ hội tiêu biểu để phát triển thành sản phẩm du lịch đã tạo ra sức hút lớn, tiêu biểu như: Lễ cúng lúa mới của người Churu, Lễ Katê của người Chăm, Lễ Sum họp cộng đồng của người M’Nông... Các hoạt động này không chỉ góp phần quảng bá hình ảnh địa phương mà còn giúp đồng bào dân tộc nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống.
Những mô hình này cho thấy, khi văn hóa được “đánh thức” và khai thác hợp lý, sẽ trở thành nguồn lực lâu dài, bền vững cho sự phát triển của đất nước.
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa đã đặt ra những quan điểm mang tính chiến lược, trong đó nhấn mạnh việc gắn văn hóa với phát triển kinh tế, đặc biệt là du lịch. Nghị quyết xác định văn hóa là nền tảng tinh thần, đồng thời là nguồn lực nội sinh quan trọng. Điều này đồng nghĩa với việc văn hóa không chỉ được bảo tồn mà phải được khai thác để tạo ra giá trị kinh tế, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng. Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc lấy cộng đồng làm trung tâm và là chủ thể của bảo tồn, phát huy văn hóa, gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch và kinh tế văn hóa. Để mỗi giá trị văn hóa phải trở thành một sản phẩm, mỗi bản sắc phải trở thành một giá trị kinh tế - đây là quan điểm mang tính đột phá, mở ra hướng đi mới cho phát triển văn hóa trong giai đoạn mới…
Theo Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác văn hóa dân tộc giai đoạn 2026-2031 là tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách theo hướng đồng bộ, thống nhất, khả thi và phù hợp với thực tiễn. Triển khai đồng bộ Chương trình hành động của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị… Bên cạnh đó, nâng cao hiệu quả triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, gắn với sản phẩm và kết quả cụ thể; phát triển kinh tế văn hóa, du lịch cộng đồng; đồng thời chú trọng phát triển nguồn nhân lực và phát huy vai trò của đội ngũ nghệ nhân, già làng, trưởng bản - những chủ thể nòng cốt trong gìn giữ và lan tỏa giá trị văn hóa…
Văn hóa các dân tộc thiểu số là tài sản vô giá của quốc gia, là “căn cước” của dân tộc trong quá trình hội nhập. Khi được bảo tồn và phát huy đúng hướng, văn hóa sẽ trở thành nguồn lực nội sinh mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và củng cố vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.