Gia đình Việt Nam chuyển biến cùng tiến trình Đổi mới
Đối với người Việt, Tết Nguyên đán là dịp mọi người trong gia đình sum vầy bên nhau, tận hưởng niềm vui đoàn viên. Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Thị Hoa, Phó Viện trưởng Viện Xã hội học và Tâm lý học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), gia đình Việt Nam đã có nhiều biến đổi trong 40 năm qua, rõ nhất là sự thay đổi về cơ cấu gia đình. Nếu như 40 năm trước, gia đình Việt Nam thường là gia đình lớn với nhiều thế hệ cùng chung sống trong một mái nhà (tứ đại đồng đường). Trong mỗi gia đình có nhiều cặp vợ chồng gồm ông bà, bố mẹ, con trai, con dâu và các cháu; ngoài ra còn có các thành viên khác là anh chị em ruột chưa kết hôn. Các hoạt động kinh tế của gia đình chủ yếu mang tính tự cung tự cấp, dựa vào sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, sự phân công lao động trong gia đình dựa trên đặc điểm sản xuất và hoạt động kinh tế, huy động sự tham gia của tất cả các thành viên để tổ chức sản xuất theo mùa vụ nông nghiệp.
Đến nay, gia đình Việt Nam đã thay đổi khá nhiều về cơ cấu, trong đó đại đa số là gia đình hạt nhân gồm hai vợ chồng và các con (thường là hai con). Hoạt động kinh tế gia đình cũng thay đổi đáng kể, từ sản xuất trong gia đình chuyển sang hình thức làm công ăn lương của các thành viên. Một bộ phận lớn gia đình chuyển sang hoạt động kinh doanh, dịch vụ, phát triển kinh tế hộ gia đình theo phương thức sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Những thay đổi lớn về phương thức sản xuất và sự hình thành các loại hình kinh tế mới cũng làm thay đổi rõ nét sự phân công công việc trong gia đình. Trong sản xuất nông nghiệp, người chồng thường đảm nhiệm các công việc nặng nhọc, người vợ chăm lo việc nhà, gieo trồng, thu hoạch và chăm sóc mùa màng. Từ đặc điểm sản xuất đó, người chồng thường có nhiều quyền quyết định hơn trong gia đình. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của các hoạt động kinh tế mới, vai trò của người vợ trong gia đình cũng có nhiều thay đổi. Với đặc điểm khéo tính toán, lo toan, thu vén công việc, người phụ nữ thường đảm nhiệm các hoạt động dịch vụ, buôn bán trong gia đình và đây cũng là nguồn thu nhập quan trọng.
Trong văn hóa gia đình Việt Nam, người mang lại thu nhập chính thường có quyền quyết định nhiều hơn, do đó, ở một số địa phương, vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng được nâng lên đáng kể, góp phần quan trọng trong thực hành bình đẳng giới trong gia đình. Mức độ bình đẳng giới trong gia đình hiện nay còn tùy thuộc vào từng địa phương, khu vực thành thị, nông thôn và từng tộc người. Ở các khu vực đô thị, các vùng nông thôn có tốc độ phát triển kinh tế - xã hội nhanh, đô thị hóa cao, bình đẳng giới trong gia đình đã thể hiện khá rõ nét. Tuy nhiên, tại một số vùng sâu, vùng xa, một số tộc người thiểu số vẫn còn khoảng cách giới trong gia đình.
Khi người phụ nữ khẳng định được vị thế ngoài xã hội thì họ cũng từng bước cải thiện được mối quan hệ bình đẳng trong gia đình. Tuy nhiên, cùng với những chuyển biến tích cực, một số giá trị gia đình đang chịu tác động của nhịp sống hiện đại. Sự bền vững của gia đình không còn như gia đình truyền thống; nhiều gia đình trẻ có xu hướng dễ bị đổ vỡ hơn do lối sống hiện đại và một số giá trị gia đình không còn được coi trọng.
Sự chung thủy, chia sẻ, nhường nhịn, giúp đỡ lẫn nhau, sự thấu hiểu và thông cảm giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái không còn được duy trì như trước đây là nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự đổ vỡ của gia đình. Bên cạnh đó, nhiều loại hình gia đình mới xuất hiện như gia đình đơn thân, gia đình khuyết thiếu. Mặc dù vậy, nhìn tổng thể, gia đình Việt Nam vẫn giữ được nét truyền thống là chủ yếu. Gia đình vẫn là hạt nhân nòng cốt của một xã hội ổn định và yên bình. Trong giai đoạn hiện nay, điều kiện kinh tế và đời sống tiện nghi sinh hoạt của gia đình đã được cải thiện đáng kể, nhưng các mối quan hệ tình cảm, hoạt động tương tác, giao tiếp trong gia đình đang bị giảm đi do ảnh hưởng của thiết bị số và cuộc sống hiện đại.
Từ góc độ nghiên cứu về gia đình, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Thị Hoa cho rằng cần tuyên truyền, phổ biến rộng rãi và sâu sắc hơn về các giá trị gia đình cần gìn giữ, phát huy trong thời kỳ mới; khuyến khích phổ biến, tuyên truyền các giá trị gia đình trong trường học, cộng đồng, đồng thời hiện thực hóa bằng các hoạt động cụ thể để gắn kết gia đình, trao niềm yêu thương, chia sẻ và trách nhiệm giữa các thành viên. Bên cạnh đó, cần xây dựng bộ chỉ số đánh giá gia đình để sớm phát hiện và ngăn chặn các biểu hiện suy thoái của gia đình. Các chính sách về gia đình cần tập trung nhiều hơn vào việc cải thiện các loại hình dịch vụ công như giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, bảo đảm các nhu cầu thiết yếu của gia đình, giúp các gia đình trẻ yên tâm trong sinh hoạt, sinh con và chăm sóc con tốt hơn. Cùng với đó, cần tăng cường các hoạt động văn hóa, giao lưu tinh thần trong gia đình, cộng đồng; huy động sự tham gia của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là các thành viên trẻ tuổi, nhằm tăng thêm sự gắn kết trong gia đình và cộng đồng.
Gìn giữ hệ giá trị văn hóa trong giai đoạn phát triển mới
Diễn xướng hầu đồng là một nghi lễ hết sức đặc biệt mang đậm màu sắc văn hóa tâm linh trong di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt. Ảnh tư liệu: Việt Dũng/TTXVN
Theo Tiến sĩ Lê Hoài Nam, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Bảo tồn văn hóa tín ngưỡng dân gian Việt Nam, thành tựu nổi bật của 40 năm Đổi mới trong lĩnh vực văn hóa tín ngưỡng dân gian là sự thay đổi trong nhận thức và cách tiếp cận đối với các giá trị văn hóa truyền thống. Nếu trước đây việc bảo tồn chủ yếu hướng tới gìn giữ các nghi lễ và phong tục thì hiện nay, văn hóa tín ngưỡng đã được nhìn nhận là một bộ phận của di sản văn hóa dân tộc, gắn với xây dựng bản sắc văn hóa và củng cố sức mạnh tinh thần của cộng đồng.
Cùng với sự thay đổi về nhận thức, nhiều loại hình tín ngưỡng dân gian đã được quan tâm nghiên cứu, kiểm kê, phục dựng và bảo tồn. Một chuyển biến quan trọng là cộng đồng ngày càng giữ vai trò chủ thể trong gìn giữ và thực hành các giá trị văn hóa. Di sản vì vậy không chỉ được bảo tồn trong các lễ hội hay không gian thờ tự mà còn hiện diện trong phong tục, tập quán và cách ứng xử hằng ngày của mỗi gia đình, mỗi cộng đồng. Đây cũng là quá trình các giá trị văn hóa truyền thống tiếp tục được kế thừa và lan tỏa trong đời sống xã hội.
Tiến sĩ Lê Hoài Nam cho rằng, giá trị cốt lõi của văn hóa tín ngưỡng dân gian không nằm ở hình thức nghi lễ mà ở hệ giá trị được tích lũy qua nhiều thế hệ, gồm lòng yêu nước, tinh thần hướng về cội nguồn, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, sự gắn kết cộng đồng, lòng nhân ái và ý thức trách nhiệm với gia đình, quê hương. Những giá trị này góp phần hình thành bản sắc văn hóa Việt Nam và vẫn giữ nguyên ý nghĩa trong giai đoạn phát triển mới. Nếu được bảo tồn và phát huy đúng hướng, các giá trị văn hóa truyền thống, trong đó có văn hóa tín ngưỡng dân gian, sẽ tiếp tục giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, củng cố sự đồng thuận xã hội và giúp con người Việt Nam thích ứng với những biến đổi của thời đại mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc.