Bạo hành trẻ em - Bài cuối: Vá lỗ hổng bảo vệ trẻ

Áp lực mưu sinh tại các đô thị lớn cùng mặt trái của mạng xã hội đang vô tình khoét sâu những lỗ hổng trong công tác bảo vệ trẻ em. Để ngăn chặn bi kịch lặp lại, việc bảo vệ trẻ không thể chỉ phó mặc cho từng gia đình mà cần một hệ thống can thiệp liên ngành đủ nhanh, đủ an toàn và đủ nhân văn.

Những khoảng trống trong bảo vệ trẻ

Sau mỗi vụ bạo hành trẻ em gây rúng động dư luận, xã hội thường đặt ra một câu hỏi day dứt: Vì sao những đứa trẻ ấy phải chịu đựng đau đớn suốt thời gian dài mà không được phát hiện sớm?

Theo Tiến sĩ Ananya Manmathbhai Mehta, Phó Chủ nhiệm bộ môn Truyền thông chuyên nghiệp, Đại học RMIT Việt Nam, trong nhiều trường hợp, hàng xóm, người thân hoặc nhà trường có thể nhận ra dấu hiệu bất thường nhưng lại ngần ngại can thiệp vì xem đó là “chuyện riêng của gia đình”.

Chú thích ảnh
Trẻ nhỏ cần được che chở và bảo vệ trong tình thương của gia đình và bạn bè. Ảnh minh họa

Sự im lặng ấy vô tình tạo ra khoảng trống để bạo lực tiếp diễn sau những cánh cửa khép kín. Các chuyên gia tâm lí cho rằng, đây không chỉ là vấn đề cá nhân mà còn phản ánh rào cản văn hóa tồn tại lâu nay trong xã hội. Quan niệm “thương cho roi cho vọt” hay tâm lý ngại va chạm khiến nhiều người chứng kiến dấu hiệu bạo hành nhưng không dám lên tiếng.

Trong khi đó, áp lực mưu sinh tại các đô thị lớn đang làm gia tăng nguy cơ trẻ bị bỏ bê hoặc sống trong môi trường thiếu an toàn. Thực tế chứng minh, tại nhiều khu công nghiệp ở Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh và các địa phương tập trung đông lao động nhập cư, không ít phụ huynh phải làm việc kéo dài, thiếu mạng lưới hỗ trợ gia đình, buộc phải gửi con tại các nhóm trẻ tự phát hoặc để trẻ thiếu sự chăm sóc, giám sát cần thiết.

Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Quỳnh Anh, Chủ nhiệm bộ môn Tâm lý học, Đại học RMIT Việt Nam, cho rằng nhiều phụ huynh bạo hành con thực chất đang đối mặt với căng thẳng tâm lý, áp lực tài chính hoặc những tổn thương chưa được chữa lành. Khi không thể kiểm soát cơn giận và sự bất lực, họ dễ trút đòn roi lên con trẻ như một cách giải tỏa tiêu cực.

Trong bối cảnh đó, mạng xã hội đang tác động ngày càng mạnh đến cách cộng đồng nhìn nhận và phản ứng trước các vụ bạo hành trẻ em. Theo Tiến sĩ Ananya Manmathbhai Mehta, Facebook, TikTok và các nền tảng số có mặt tích cực là lan truyền thông tin rất nhanh, tạo áp lực xã hội buộc cơ quan chức năng phải vào cuộc xử lý, đồng thời giúp nhiều người tiếp cận kiến thức về quyền trẻ em và dấu hiệu nhận diện bạo hành.

“Tuy nhiên, mạng xã hội cũng là 'con dao hai lưỡi'. Nhiều cuộc thảo luận dễ bị đẩy sang trạng thái cực đoan, cảm tính, tập trung vào việc công kích cá nhân hoặc lan truyền thông tin chưa kiểm chứng. Đáng lo ngại hơn, hình ảnh và thông tin riêng tư của trẻ em bị chia sẻ tràn lan trên không gian mạng, khiến nạn nhân tiếp tục chịu thêm tổn thương tâm lý sau bi kịch”, Tiến sĩ Ananya Manmathbhai Mehta nhận định.

Theo thống kê quý I/2026, cả nước ghi nhận 57 vụ xâm hại trẻ em trên môi trường mạng. Cơ quan chức năng cũng nhiều lần cảnh báo tình trạng các đối tượng lợi dụng mạng xã hội để tiếp cận, thao túng tâm lý, dụ dỗ hoặc đe dọa trẻ vị thành niên đang gia tăng với thủ đoạn ngày càng tinh vi.

Trước tình hình trên, Bộ Công an đang phối hợp với các cơ quan chức năng xây dựng chương trình bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng giai đoạn 2026 - 2030, qua đó đưa ra các giải pháp tăng cường giám sát, phòng ngừa tội phạm công nghệ cao liên quan đến trẻ em, đồng thời nâng cao kỹ năng an toàn số cho thanh thiếu niên.

Chú thích ảnh
Hãy bảo vệ trẻ và lắng nghe trẻ, kịp thời xây dựng "lá chắn" an toàn cho trẻ. Ảnh minh họa

Theo các chuyên gia truyền thông, việc đưa tin về bạo hành trẻ em cần đặt sự an toàn và phẩm giá của trẻ lên trên yếu tố giật gân. Truyền thông có trách nhiệm không chỉ dừng ở việc phản ánh bi kịch mà còn phải giúp cộng đồng hiểu cách nhận diện nguy cơ, cách trình báo an toàn và các địa chỉ hỗ trợ cần thiết.

“Cần chuyển trọng tâm từ câu hỏi “điều gì đã xảy ra” sang “chúng ta có thể làm gì để ngăn chặn điều đó lặp lại””, Tiến sĩ Ananya Manmathbhai Mehta nhấn mạnh.

Xây dựng “lá chắn” bảo vệ trẻ từ sớm

Sau mỗi vụ bạo hành gây chấn động dư luận, câu hỏi thường được đặt ra là vì sao những dấu hiệu bất thường không được phát hiện sớm hơn. Theo nhiều chuyên gia tâm lý và công tác xã hội, công tác bảo vệ trẻ em hiện nay vẫn chủ yếu tập trung xử lý hậu quả, trong khi khâu phát hiện sớm và can thiệp sớm còn nhiều khoảng trống.

Vụ bé trai hơn 2 tuổi bị bạo hành tại xã Hòa Hiệp, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũ được xem là một trong những trường hợp hiếm hoi mà cơ chế phối hợp liên ngành được kích hoạt kịp thời. Ngay sau khi tiếp nhận thông tin, Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 đã kết nối với chính quyền địa phương, công an và cơ sở y tế để đưa cháu bé đi cấp cứu khẩn cấp.

Bộ Y tế cũng yêu cầu Bệnh viện Nhi đồng 1 (TP Hồ Chí Minh) tập trung tối đa nguồn lực chuyên môn điều trị cho bệnh nhi, trong khi cơ quan điều tra nhanh chóng bắt giữ những người liên quan.

Theo các chuyên gia tâm lí, việc phối hợp đồng bộ giữa hệ thống bảo vệ trẻ em, y tế, công an và chính quyền địa phương là yếu tố then chốt giúp rút ngắn thời gian can thiệp trong các tình huống khẩn cấp. Tuy nhiên, không phải vụ việc nào cũng được phát hiện đủ sớm để trẻ có cơ hội được bảo vệ kịp thời.

Hiện nay, Tổng đài 111 vẫn là đầu mối quan trọng tiếp nhận thông tin liên quan đến trẻ em bị xâm hại, bạo hành hoặc cần hỗ trợ khẩn cấp. Theo các báo cáo chuyên đề, mỗi năm tổng đài tiếp nhận khoảng 300.000 cuộc gọi. Riêng giai đoạn từ tháng 6/2021 đến tháng 6/2025 đã ghi nhận hơn 1,55 triệu cuộc gọi từ người dân trên cả nước.

Chú thích ảnh
Việc phối hợp đồng bộ của các đơn vị, cá nhân là yếu tố then chốt bảo vệ trẻ khỏi những tổn thương tâm lí và thể xác. Ảnh minh họa

Dù vậy, tại nhiều khu dân cư và khu công nghiệp, không ít người vẫn chưa biết cách trình báo hoặc còn e ngại về tính bảo mật khi cung cấp thông tin. Trong khi đó, theo các cán bộ công tác xã hội, nhiều gia đình chỉ tìm đến hỗ trợ khi mâu thuẫn và áp lực đã vượt ngoài khả năng kiểm soát.

Các chuyên gia cho rằng, để ngăn chặn bạo hành trẻ em từ sớm, điều quan trọng trước tiên là phải tạo ra cơ chế trình báo đủ an toàn để người dân dám lên tiếng, trẻ em dám cầu cứu và hàng xóm, người thân không còn tâm lý “đó là chuyện riêng của gia đình”.

Bên cạnh hệ thống hỗ trợ cộng đồng, trường học cũng cần trở thành “lá chắn” đầu tiên bảo vệ trẻ em. Theo Tiến sĩ Ananya Manmathbhai Mehta, giáo viên và nhân viên trường học cần được đào tạo bài bản để nhận diện các dấu hiệu bất thường cả về thể chất lẫn tâm lý. Trường học không chỉ là nơi dạy kiến thức mà còn phải là không gian đủ an toàn để trẻ tìm kiếm sự giúp đỡ khi gặp nguy hiểm.

Nhiều chuyên gia giáo dục nhận định, giáo viên chủ nhiệm và nhân viên tâm lý học đường thường là những người sớm nhận ra sự thay đổi trong hành vi của trẻ, từ việc thu mình, sợ hãi, mất tập trung đến các phản ứng bất thường về cảm xúc. Nếu được can thiệp đúng lúc, nhiều tổn thương có thể được ngăn chặn trước khi trở nên nghiêm trọng.

Ở cấp độ cộng đồng, các tổ chức như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên hay công đoàn cơ sở cũng được xem là mạng lưới hỗ trợ quan trọng, đặc biệt với những gia đình lao động nhập cư đang chịu nhiều áp lực kinh tế và thiếu kỹ năng nuôi dạy con.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Quỳnh Anh, hỗ trợ cha mẹ quản lý căng thẳng, chăm sóc sức khỏe tinh thần và tiếp cận phương pháp nuôi dạy con không bạo lực chính là cách phòng ngừa từ gốc. Bởi phía sau nhiều vụ bạo hành là sự mất kiểm soát kéo dài của người lớn, cộng với thiếu hụt kỹ năng chăm sóc và hỗ trợ tâm lý.

Dẫn các nghiên cứu quốc tế, chuyên gia RMIT cho biết nhiều quốc gia như Na Uy, Thụy Điển hay Phần Lan đang ưu tiên mô hình “phòng ngừa sớm”, tức hỗ trợ gia đình ngay từ khi xuất hiện nguy cơ, thay vì chỉ can thiệp sau khi trẻ đã trở thành nạn nhân. Các nước này đầu tư mạnh vào dịch vụ tâm lý học đường, công tác xã hội cộng đồng và chương trình hỗ trợ cha mẹ trong giai đoạn nuôi con nhỏ.

Các chuyên gia nhận định, bảo vệ trẻ em sẽ không thể hiệu quả nếu vẫn bị xem là trách nhiệm riêng của từng gia đình. Chỉ khi nhà trường, cộng đồng, cơ quan chức năng và mỗi người xung quanh cùng lên tiếng trước những dấu hiệu bất thường, trẻ em mới thực sự có cơ hội được bảo vệ.

Không thể xóa bỏ hoàn toàn những vết sẹo đã hằn sâu trong tuổi thơ của nhiều đứa trẻ từng bị bạo hành. Nhưng xã hội hoàn toàn có thể ngăn những bi kịch tương tự lặp lại nếu mọi tiếng kêu cứu được lắng nghe sớm hơn, mọi dấu hiệu bất thường được phát hiện kịp thời hơn và mỗi đứa trẻ đều có một “lá chắn” đủ an toàn để được chở che.

Hải Yên/Báo Tin tức và Dân tộc
Ngày 14/5, xét xử nữ giúp việc bạo hành cụ bà 82 tuổi ở Hà Nội
Ngày 14/5, xét xử nữ giúp việc bạo hành cụ bà 82 tuổi ở Hà Nội

Ngày 14/5 tới, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội sẽ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án nữ giúp việc bạo hành cụ bà 82 tuổi ở Hà Nội gây bất bình trong dư luận xã hội hồi đầu năm nay.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN