Sandbox công nghệ số chuyển từ khung pháp lý sang triển khai thực tế

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) lĩnh vực công nghệ số đã chính thức chuyển từ quy định pháp lý sang giai đoạn triển khai thực tế, với những mô hình thí điểm đầu tiên đang được xúc tiến. Việc hoàn thiện quy trình, tăng cường phân cấp cho địa phương và thử nghiệm các ứng dụng cụ thể được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng thúc đẩy đổi mới sáng tạo gắn với yêu cầu an toàn, hiệu quả.

Chiều 29/4, tại buổi họp báo thường kỳ tháng 4/202 của Bộ Khoa học và Công nghệ, trả lời câu hỏi của phóng viên báo Tin tức và Dân tộc về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), ông Trần Anh Tú, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp công nghệ thông tin cho biết: Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đã được quy định trong Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025.

Đối với lĩnh vực công nghệ số, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 353/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, quy định về các nguyên tắc, điều kiện, thời gian, không gian, phạm vi và đối tượng; hồ sơ, quy trình cấp phép thử nghiệm; báo cáo, giám sát và đánh giá kết quả sau thử nghiệm. Trong đó, điểm nhấn là tăng cường phân cấp mạnh mẽ cho UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, phối hợp với các cơ quan liên quan cấp phép thử nghiệm trên địa bàn.

Chú thích ảnh
Ông Trần Anh Tú, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp công nghệ thông tin thông tin về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát.

Đến nay, việc triển khai thực tế sandbox đang được các cơ quan liên quan tích cực thúc đẩy, trước mắt tập trung vào một số trường hợp đầu tiên mang tính điển hình để làm mẫu, rút kinh nghiệm và hoàn thiện quy trình tổ chức thực hiện. Bộ Khoa học và Công nghệ đang phối hợp với tỉnh Điện Biên và các cơ quan liên quan để hoàn thiện đề án thử nghiệm có kiểm soát đối với một số mô hình ứng dụng UAV trong nông nghiệp, lâm nghiệp, logistics y tế, dân sinh và quản lý nhà nước. Đây không phải là thử nghiệm riêng công nghệ UAV, mà là thử nghiệm mô hình ứng dụng thực tế nhằm đánh giá hiệu quả, cách tổ chức thực hiện và cơ chế phối hợp. Hiện nay, quá trình này đang trong giai đoạn lấy ý kiến liên ngành, hoàn thiện hồ sơ, thẩm định và tiến hành cấp phép thử nghiệm.

Về số lượng tổ chức, doanh nghiệp tham gia chính thức theo từng hồ sơ cụ thể, sẽ được cung cấp sau khi có quyết định cấp phép theo quy định.

Kết quả bước đầu lớn nhất đến nay là cơ chế sandbox đã được chuyển từ quy định pháp lý sang giai đoạn triển khai thực tế; đồng thời đã hình thành một số đề án, trường hợp chuẩn bị thí điểm cụ thể làm cơ sở hoàn thiện quy trình, cơ chế phối hợp và cách thức giám sát trong thời gian tới.

Về khó khăn hiện nay, theo ông Trần Anh Tú, chủ yếu có hai nhóm: Thứ nhất là khó khăn trong khâu chuẩn bị và tổ chức triển khai. Do sandbox áp dụng đối với công nghệ, sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình kinh doanh mới, nên trong quá trình chuẩn bị phải xác định rõ mục tiêu, phạm vi, điều kiện, giới hạn thử nghiệm và các yêu cầu quản lý đối với từng mô hình cụ thể. 

Thứ hai là khó khăn đối với các mô hình thử nghiệm có tính liên ngành. Nhiều mô hình liên quan đồng thời đến quy định và trách nhiệm quản lý của nhiều bộ, ngành và địa phương. Vì vậy, trong quá trình triển khai cần rà soát, xác định rõ những quy định được phép không áp dụng hoặc được phép áp dụng đối với từng nội dung cụ thể; trường hợp cần thiết thì xem xét cơ chế phù hợp nhất trong phạm vi thử nghiệm theo đúng thẩm quyền. 

Về lâu dài, cùng với quá trình triển khai các trường hợp đầu tiên, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiếp tục theo dõi, tổng hợp thực tiễn để nghiên cứu, hoàn thiện hành lang pháp lý phù hợp đối với các mô hình mới. Đây là yêu cầu đặt ra trong quá trình hoàn thiện cơ chế, chưa phải là vướng mắc phát sinh ngay ở giai đoạn hiện nay.

Thời gian tới, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương để hỗ trợ triển khai thực tiễn các sandbox, kịp thời tháo gỡ khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện; tổng hợp thực tiễn để đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách, vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vừa bảo đảm an toàn, hiệu quả và lợi ích xã hội.

Xuân Cường/Báo Tin tức và Dân tộc
Phát hiện khoảng 900.000 số thuê bao không chính chủ qua VNeID
Phát hiện khoảng 900.000 số thuê bao không chính chủ qua VNeID

Theo Cục Viễn thông (Bộ Khoa học và Công nghệ), sau 15 ngày triển khai xác nhận trên VNeID theo Thông tư 08, đã có khoảng 900.000 số thuê bao được người dùng xác nhận không sử dụng chính chủ qua VNeID.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN