Phòng nghiên cứu công nghệ nano hiện đại của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: TTXVN phát
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định nhiệm vụ đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tranh thủ nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước. Những hoạt động hợp tác được triển khai trong thời gian gần đây cho thấy lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang trở thành một trong những điểm sáng trong quan hệ giữa Việt Nam với nhiều đối tác trên thế giới.
Mở rộng nguồn lực cho nghiên cứu khoa học
Một trong những hoạt động đáng chú ý gần đây là việc Việt Nam và Australia công bố Chương trình tài trợ nghiên cứu chung năm 2026 trong khuôn khổ Sáng kiến Hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam - Australia (AVSTICI).
Chương trình tập trung vào ba lĩnh vực ưu tiên gồm: Công nghệ năng lượng mới và tái tạo, kinh tế biển bền vững, tái chế và quản lý chất thải. Đây đều là những lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng đối với mục tiêu phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và ứng phó với các thách thức môi trường. Điểm nổi bật của chương trình là cơ chế tài trợ nghiên cứu chung giữa hai nước. Thông qua cơ chế này, các nhà khoa học có điều kiện xây dựng các nhóm nghiên cứu hợp tác, cùng triển khai các nhiệm vụ khoa học và chia sẻ nguồn lực nghiên cứu.
Về phía Việt Nam, Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) sẽ là đầu mối triển khai, phối hợp và quản lý chương trình. Theo Giám đốc NAFOSTED Đào Ngọc Chiến, đây là bước triển khai cụ thể các cam kết hợp tác khoa học và công nghệ giữa Việt Nam và Australia, đồng thời tạo tiền đề để mở rộng hợp tác các lĩnh vực công nghệ mới trong thời gian tới.
Nhà khoa học trưởng Australia Tony Haymet cho biết, Australia đặc biệt quan tâm đến cách Việt Nam xác định các ưu tiên quốc gia trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cũng như các định hướng phát triển hạ tầng tính toán hiệu năng cao, siêu máy tính và trí tuệ nhân tạo.
Việc phía Australia quan tâm đến những lĩnh vực này cho thấy nội dung hợp tác khoa học, công nghệ giữa hai nước đang mở rộng sang các lĩnh vực công nghệ mới, đồng thời phản ánh nhu cầu tăng cường kết nối nghiên cứu trong các lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với tương lai phát triển của cả hai quốc gia. Bên cạnh Australia, Việt Nam cũng đang mở rộng hợp tác với nhiều đối tác quốc tế trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Các chương trình nghiên cứu chung, cơ chế đồng tài trợ nghiên cứu và kết nối các tổ chức khoa học ngày càng được chú trọng, góp phần tạo thêm nguồn lực cho hoạt động nghiên cứu trong nước.
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân báo cáo về Đề án phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, tập trung cho công nghệ chiến lược, sáng 23/6. Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN
Một xu hướng đáng chú ý trong hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ thời gian gần đây là nội dung hợp tác ngày càng hướng tới các công nghệ chiến lược. Tại Diễn đàn kỷ niệm 35 năm quan hệ Đối thoại ASEAN - Nga tổ chức tại Kazan (Liên bang Nga), Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân đã đề xuất mở rộng hợp tác giữa Việt Nam và Liên bang Nga trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử, công nghệ vũ trụ và vệ tinh quỹ đạo tầm thấp.
Bộ trưởng cũng đề nghị tăng số lượng các nhiệm vụ nghiên cứu chung do hai bên đồng tài trợ, đồng thời đẩy mạnh kết nối giữa các nhà khoa học trẻ, viện nghiên cứu và trường đại học của hai nước. Lãnh đạo Bộ Khoa học và Giáo dục Đại học Liên bang Nga đánh giá cao các đề xuất của Việt Nam và bày tỏ sự ủng hộ đối với định hướng mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn.
Theo kế hoạch, cuối năm 2026 sẽ diễn ra Khóa họp lần thứ 7 Ủy ban hợp tác Việt Nam - Nga về giáo dục, khoa học và công nghệ tại Nga. Việt Nam sẽ cử đoàn tham dự Hội nghị các nhà khoa học trẻ Việt Nam - Nga kết hợp Phiên họp Phân ban Hợp tác về giáo dục, khoa học và công nghệ.
Việc đưa các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử hay công nghệ vũ trụ vào chương trình hợp tác phản ánh xu hướng mở rộng hợp tác sang những công nghệ đang được nhiều quốc gia ưu tiên đầu tư. Đây cũng là những lĩnh vực được kỳ vọng tạo ra những thay đổi lớn về năng suất, năng lực cạnh tranh và trình độ phát triển khoa học, công nghệ trong tương lai.
Nhu cầu cho chương trình đồng phát triển sản phẩm
Bên cạnh các lĩnh vực công nghệ chiến lược, nhu cầu hợp tác quốc tế cũng được thể hiện rõ trong những ngành công nghệ mới đang hình thành.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, trong lĩnh vực sinh dược - mỹ phẩm, các nhà khoa học Việt Nam đã làm chủ nhiều công đoạn từ chiết tách, phân lập, xác định cấu trúc đến đánh giá hoạt tính sinh học ở mức tế bào và một số đích phân tử, đặc biệt trên nguồn dược liệu phong phú, đặc hữu trong nước. Tuy nhiên, năng lực chế biến sâu ở quy mô pilot, công nghệ bào chế, tiêu chuẩn hóa hoạt chất và phát triển sản phẩm theo chuẩn quốc tế vẫn còn hạn chế.
Trong khi đó, Hàn Quốc được đánh giá có thế mạnh trong việc hoàn thiện chuỗi phát triển sản phẩm từ nghiên cứu đến thương mại hóa. Nếu được thúc đẩy thông qua các mô hình như phòng thí nghiệm chung hoặc chương trình đồng phát triển sản phẩm, hợp tác giữa hai bên có thể tạo ra các dòng sinh dược - mỹ phẩm có giá trị gia tăng cao từ nguồn tài nguyên bản địa của Việt Nam.
Tương tự, trong lĩnh vực công nghệ hydrogen, các nhà khoa học Việt Nam đã bước đầu nghiên cứu vật liệu lưu trữ hydrogen cũng như các chất mang hydrogen phục vụ vận chuyển trong chuỗi giá trị năng lượng. Tuy nhiên, phần lớn kết quả hiện vẫn ở quy mô phòng thí nghiệm.
Trong khi đó, các đối tác như Hàn Quốc có thế mạnh nổi trội trong hoàn thiện chuỗi “từ phòng thí nghiệm đến thị trường”. Nếu được đẩy mạnh theo các mô hình tích hợp như phòng thí nghiệm chung hay chương trình đồng phát triển sản phẩm, hợp tác này có thể tạo ra các dòng sinh dược - mỹ phẩm giá trị cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường khu vực.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, nếu được thúc đẩy thông qua các chương trình hợp tác bài bản và các dự án thí điểm cụ thể, hai bên có thể từng bước nâng cấp các kết quả nghiên cứu lên quy mô ứng dụng; qua đó hình thành năng lực tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ hydrogen toàn cầu.
Nhìn từ các chương trình hợp tác được triển khai thời gian qua có thể thấy, các đối tác quốc tế đang tham gia hỗ trợ Việt Nam ở nhiều khâu khác nhau của hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo bao gồm cả những công nghệ chiến lược. Việc tăng cường hợp tác quốc tế không chỉ giúp kết nối nguồn lực nghiên cứu mà còn tạo điều kiện để các nhà khoa học Việt Nam tham gia sâu hơn vào các mạng lưới nghiên cứu quốc tế, tiếp cận các công nghệ mới và từng bước nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của đất nước.