Quang cảnh phiên họp, sáng 19/8. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN
Đại biểu Trần Văn Thắng (Đoàn Vĩnh Long): Gắn phân bổ vốn với hiệu quả đầu tư công
Dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) hướng tới mục tiêu thể chế hóa các quy định của Đảng, khắc phục tình trạng giao thoa, chồng chéo giữa Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công; bảo đảm đồng bộ, thống nhất trong quản lý, phân bổ và sử dụng nguồn lực công. Đồng thời, dự thảo góp phần xử lý những tồn tại, bất cập trong phân bổ, thực hiện, quyết toán ngân sách nhà nước và vốn đầu tư công; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với xác định rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành, nhất là trong tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.
Về cơ chế kiểm soát và đánh giá hiệu quả đầu tư công, đề nghị dự thảo Luật cần trở thành công cụ pháp lý đột phá, không chỉ dừng ở việc hợp nhất các quy định mà phải tạo dựng cơ chế quản lý tài chính hiện đại.
Một trong những yêu cầu cốt lõi là chuyển từ phương thức quản lý theo đầu vào truyền thống sang quản lý dựa trên kết quả thực hiện nhiệm vụ, gắn với kết quả đầu ra, qua đó bảo đảm nguồn lực ngân sách được sử dụng hiệu quả, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội thiết thực.
Dự thảo Luật đã bổ sung yêu cầu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội đối với chương trình, nhiệm vụ và dự án đầu tư công. Đây là nội dung mới quan trọng nhằm thể chế hóa chủ trương, định hướng tại Kết luận số 18-KL/TW của Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, vay và trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030, gắn với mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng dự thảo mới chỉ quy định chung về yêu cầu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, chưa quy định cụ thể về tiêu chí và nguyên tắc đánh giá. Do đó, cần nghiên cứu hoàn thiện theo hướng quy định rõ hơn hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư đối với các dự án, làm cơ sở đo lường kết quả thực hiện.
Cùng với đó, cần quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, người quyết định chủ trương đầu tư và người quyết định đầu tư trong việc bảo đảm hiệu quả dự án; xây dựng cơ chế đánh giá sau khi dự án hoàn thành, đưa vào khai thác, sử dụng; đồng thời công khai kết quả đánh giá và xác định trách nhiệm đối với những trường hợp dự án không đạt mục tiêu hoặc có kết quả thấp.
Quản lý đầu tư công không chỉ dừng ở tiến độ giải ngân mà quan trọng hơn là hiệu quả của dự án và kết quả đầu ra cụ thể; đồng thời cần có những chỉ tiêu để phân bổ nguồn vốn trong các năm tiếp theo.
Đề nghị dự thảo Luật quy định các nguyên tắc và khung tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội đối với chương trình, dự án, đồng thời xác định trách nhiệm cụ thể của người quyết định đầu tư khi hiệu quả không đạt yêu cầu, thay vì giao toàn bộ nội dung và phương pháp đánh giá cho Chính phủ quy định chi tiết.
Đại biểu Đinh Ngọc Quý (Đoàn Gia Lai): Phải tuân thủ nghiêm kỷ luật ngân sách
Mỗi quốc gia có thể lựa chọn mô hình quản lý ngân sách khác nhau, nhưng mục tiêu chung và yêu cầu bắt buộc vẫn là tuân thủ nghiêm kỷ luật ngân sách.
Bên cạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý, tăng nguồn thu và sử dụng ngân sách tiết kiệm, hiệu quả, việc bảo đảm kỷ luật ngân sách phải được đặt lên hàng đầu. Quản lý ngân sách không chỉ dừng ở việc thu - chi đúng định mức mà còn phải đáp ứng yêu cầu thực tiễn của từng nhóm lĩnh vực, nhiệm vụ đặc thù.
Hiện nay đã có các định mức chi đối với những lĩnh vực như khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, văn hóa... Do đó, Luật Ngân sách nhà nước mới cần có cơ chế xử lý linh hoạt, phù hợp với đặc điểm và yêu cầu của từng nhóm nhiệm vụ, bảo đảm vừa đúng nguyên tắc, vừa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.
Từ thực tế triển khai đang tồn tại sự lệch pha giữa các quy định của pháp luật hiện hành, gây khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện. Chẳng hạn, Luật Bảo hiểm xã hội quy định Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định chi phí quản lý bảo hiểm xã hội theo chu kỳ 3 năm/lần. Trong khoản chi phí quản lý này bao gồm cả chi thường xuyên và chi đầu tư xây dựng cơ bản. Trong khi đó, theo quy định về đầu tư công, kế hoạch đầu tư công trung hạn lại được xây dựng theo chu kỳ 5 năm.
Do đó, trong quá trình hoàn thiện dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất), cần rà soát toàn bộ các luật có liên quan để khớp nối về thời hạn, quy trình và các quy định về đầu tư công, bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật.
Đại biểu Trịnh Trung Tín (Đoàn An Giang): Hoàn thiện quy định về dự phòng ngân sách và tiền sử dụng đất
Theo quy định tại dự thảo Luật, mức trích lập dự phòng ngân sách nhà nước từ 2 - 5% trên tổng chi ngân sách của mỗi cấp. Trong đó, chi ngân sách cấp trên không bao gồm chi bổ sung cân đối cho ngân sách cấp dưới; chi ngân sách cấp dưới không bao gồm chi bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên.
Đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu điều chỉnh quy định này phù hợp hơn với thực tiễn, tạo cơ sở để các địa phương chủ động, linh hoạt tham mưu cấp có thẩm quyền bố trí dự phòng ngân sách sát với yêu cầu thực tế.
Cụ thể, đối với tỷ lệ dự phòng từ 2 - 5%, cần quy định rõ tỷ lệ này được tính trên tổng chi ngân sách của mỗi cấp, không bao gồm các khoản chi bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên; đồng thời chỉ tính tỷ lệ 2 - 5% trên tổng chi cân đối ngân sách địa phương. Việc rà soát, hoàn thiện quy định sẽ góp phần bảo đảm tính phù hợp, khả thi trong phân bổ và sử dụng nguồn dự phòng ngân sách nhà nước ở các cấp.
Về nguồn thu ngân sách trung ương, tại khoản 1 Điều 36 dự thảo Luật sửa đổi quy định về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, trừ tiền sử dụng đất gắn liền với tài sản trên đất, do các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc Trung ương quản lý. Đối với các địa phương không nhận bổ sung cân đối, ngân sách trung ương hưởng 20%, ngân sách địa phương hưởng 80%; đối với các địa phương nhận bổ sung cân đối, ngân sách trung ương hưởng 15%, ngân sách địa phương hưởng 85%.
Đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét lại quy định điều tiết 15% tiền sử dụng đất, tiền thuê đất về ngân sách trung ương đối với các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách. Bởi, khi thực hiện điều tiết 15% tiền thuê đất, tiền sử dụng đất về ngân sách trung ương, các địa phương sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong trường hợp nhà đầu tư đã ứng trước kinh phí để thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Nếu địa phương vẫn phải trích nộp 15% trên tổng số ghi thu này về ngân sách trung ương sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cân đối ngân sách địa phương. Nguyên nhân là do số tiền ghi thu nêu trên tương ứng với phần chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng đã chi ra, chứ không phải là số tiền sử dụng đất thực nộp phát sinh tăng thêm vào ngân sách.
Do đó, đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung cơ chế rõ ràng: Đối với quy định trích 15% tiền sử dụng đất, tiền thuê đất về ngân sách trung ương, không bao gồm số tiền ghi thu từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất mà nhà đầu tư đã ứng trước để thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng.