Các đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Quân ủy Trung ương Đảng họp tháng 11/1974, quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Ảnh: TTXVN
Thời cơ lịch sử và quyết định chiến lược
Bước vào năm 1975, thế và lực của ta hội tụ ở mức cao nhất, tạo tiền đề trực tiếp cho thắng lợi cuối cùng. Bước ngoặt ấy là kết quả của quá trình chủ động tạo thế chiến lược, tích lũy lực lượng và tổ chức chiến tranh một cách bền bỉ, kiên định, đầy bản lĩnh của Đảng và quân dân ta trong suốt những năm trước đó.
Sau khi Hiệp định Paris được ký kết năm 1973, chiến tranh chưa kết thúc, mà chuyển sang một hình thái mới, phức tạp hơn. Đối phương vẫn còn một hệ thống quân sự lớn, được trang bị hiện đại, cùng bộ máy chính quyền được dựng lên nhằm duy trì sự kiểm soát ở miền Nam. Tuy nhiên, bản chất lệ thuộc khiến chính quyền Sài Gòn nhanh chóng bộc lộ những điểm yếu: khủng hoảng về chiến lược, suy giảm về tinh thần chiến đấu, rạn nứt trong hệ thống chỉ huy…
Trong khi đó, trên toàn chiến trường, thế trận chiến tranh nhân dân của ta tiếp tục được củng cố và mở rộng. Tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn được phát triển với quy mô lớn, không chỉ bảo đảm chi viện mà còn cho phép cơ động các binh đoàn chủ lực với tốc độ và khối lượng chưa từng có. Các lực lượng vũ trang được tổ chức lại theo hướng chính quy, hiệp đồng binh chủng ngày càng hoàn thiện. Lực lượng chính trị và vũ trang tại chỗ phát triển sâu rộng, từng bước làm xói mòn hệ thống kiểm soát của đối phương từ cơ sở. Sự chuẩn bị toàn diện và chủ động ấy đã làm thay đổi căn bản so sánh lực lượng giữa ta và địch.
Thực tiễn chiến trường đầu năm 1975 đã chứng minh rõ điều đó. Chiến dịch Tây Nguyên, với đòn đột phá then chốt vào Buôn Ma Thuột, đã đánh trúng điểm yếu chiến lược của đối phương, làm sụp đổ một mảng lớn trong hệ thống phòng thủ. Tiếp đó, sự tan rã nhanh chóng tại Huế - Đà Nẵng không chỉ là thất bại quân sự, mà là biểu hiện của một quá trình khủng hoảng toàn diện, không thể cứu vãn của chính quyền Sài Gòn. Các tuyến phòng thủ chiến lược bị phá vỡ, lực lượng bị phân tán, tinh thần rệu rã, thế trận bị đảo lộn trên quy mô toàn chiến trường.
Ngày 6/4/1975, Bộ Tư lệnh chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định được thành lập gồm các đồng chí: Văn Tiến Dũng, Tư lệnh; Phạm Hùng, Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy; Trần Văn Trà, Phó tư lệnh Thứ nhất kiêm Tham mưu trưởng; Lê Đức Anh, Phó tư lệnh (ngày 22/4 bổ sung đồng chí Lê Trọng Tấn, Phó tư lệnh, đồng chí Lê Quang Hòa, Phó chính ủy). Trong ảnh: Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ảnh: TTXVN
Thời cơ chiến lược lúc này không còn là khả năng, mà đã chuyển hóa thành điều kiện hiện thực. Trên cơ sở đánh giá toàn diện tình hình, cuối tháng 3/1975, Bộ Chính trị nhận định thời cơ để mở tổng tiến công và nổi dậy tại Sài Gòn-Gia Định đã chín muồi, từ đó quyết định mở Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định, nhắm thẳng vào trung tâm đầu não của địch nhằm kết thúc chiến tranh trong thời gian ngắn nhất có thể. Đây là quyết định mang tính chiến lược, thể hiện tầm nhìn nhạy bén và sự quyết đoán của Đảng và Quân ủy Trung ương.
Ngày 7/4/1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi điện lệnh khẩn cấp đến toàn quân: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa! Táo bạo, táo bạo hơn nữa! Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng!”. Đây không chỉ là một mệnh lệnh quân sự mà còn là lời hiệu triệu khơi dậy ý chí chiến đấu mạnh mẽ trong toàn quân và toàn dân. Chỉ trong vòng chưa đầy một tháng, các quân đoàn chủ lực hành quân thần tốc về Sài Gòn. Các tuyến đường bị địch phá hủy nhanh chóng được công binh và dân công khắc phục, xe tăng và pháo binh tiến về chiến trường với tốc độ chưa từng có.
Ngày 14/4/1975, thể theo nguyện vọng của nhân dân và các lực lượng vũ trang trên chiến trường, trong đó có quân và dân thành phố Sài Gòn-Gia Định, Bộ Chính trị đã phê chuẩn đề nghị của Bộ Chỉ huy chiến dịch, “đồng ý Chiến dịch Sài Gòn lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh”. Việc đổi tên chiến dịch mang ý nghĩa chính trị và tinh thần sâu sắc, thể hiện ý chí sắt đá thực hiện trọn vẹn di nguyện thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Chiến dịch Hồ Chí Minh vì vậy không chỉ là một chiến dịch quân sự mà còn là biểu tượng của ý chí thống nhất, lòng yêu nước và khát vọng hòa bình của cả dân tộc.
Đỉnh cao của nghệ thuật tiến công chiến lược
Đúng 17 giờ ngày 26/4/1975, quân ta nổ súng tiến công vào Sài Gòn, mở màn Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Từ năm hướng chiến lược: Tây-Bắc, Đông-Bắc, Đông, Đông-Nam, Tây và Tây-Nam, các binh đoàn chủ lực, với xe tăng làm mũi nhọn, đồng loạt thọc sâu, đập tan các tuyến phòng thủ vòng ngoài, nhanh chóng áp sát đô thành. Thế trận phòng ngự của đối phương bị phá vỡ từng mảng.
Ngày 14/4/1975, Bộ Chính trị quyết định đặt tên cho Chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định là Chiến dịch Hồ Chí Minh với phương châm “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”. Trong ảnh: Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các đồng chí trong Quân ủy Trung ương duyệt phương án tác chiến Chiến dịch Hồ Chí Minh (4/1975). Ảnh: TTXVN
Đêm 28/4/1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho các cánh quân đồng loạt tiến công vào nội đô Sài Gòn, đồng thời chỉ thị cho các lực lượng ở đồng bằng Nam Bộ phối hợp tiến công, mở rộng thế tiến công trên toàn chiến trường, hình thành thế trận tiến công liên hoàn, khép kín.
Rạng sáng 29/4/1975, các cánh quân đồng loạt đánh vào các căn cứ phòng ngự then chốt, mở đường tiến vào trung tâm Sài Gòn. Trong thời khắc quyết định ấy, những mệnh lệnh mang tính thôi thúc như “chậm trễ là có tội với lịch sử”, “thời cơ là mệnh lệnh” của Bộ Chính trị đã trở thành lời hiệu triệu mạnh mẽ, hun đúc ý chí chiến đấu của toàn quân, toàn dân. Tất cả các đơn vị đều bước vào trận đánh với khí thế tiến công áp đảo, quyết đánh và quyết thắng.
Sau hơn 3 ngày đêm chiến đấu liên tục, quân ta đã đập tan hệ thống phòng thủ vòng ngoài, đánh chiếm nhiều căn cứ, vị trí quan trọng, làm tan rã phần lớn các sư đoàn chủ lực của đối phương. Thế trận chiến lược hoàn toàn nghiêng về phía cách mạng. Từ hậu phương lớn miền Bắc đến các vùng giải phóng, từ đô thị đến nông thôn, cả nước dõi theo từng bước tiến của chiến dịch với niềm tin tất thắng. Trên mũ, trên tay áo, trên báng súng, trên thân xe, lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh - “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta” - như tiếp thêm sức mạnh cho mỗi cán bộ, chiến sĩ.
Sáng sớm ngày 30/4/1975, từ tất cả các hướng, các binh đoàn chủ lực đồng loạt tiến vào trung tâm Sài Gòn. Quân ta nhanh chóng chiếm được Bộ tư lệnh không quân và Bộ tư lệnh sư đoàn dù của địch làm chủ sân bay Tân Sơn Nhất.
10 giờ 45 phút cùng ngày, ta tiến đánh vào Dinh Độc lập, bắt sống toàn bộ chính quyền Sài Gòn, buộc Tổng thống Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện. 11 giờ 30 phút, lá cờ cách mạng tung bay trên nóc phủ Tổng thống chính quyền Sài Gòn-Dinh Độc Lập. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng!
Bộ đội lên máy bay vận tải vào miền Nam tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn (tháng 4/1975). Ảnh: TTXVN
Từ Thủ đô Hà Nội đến những vùng quê, hải đảo xa xôi, cả dân tộc vỡ òa trong niềm vui đại thắng. Khúc khải hoàn của ngày thống nhất ngân vang khắp non sông, khép lại cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam.
Tầm vóc lịch sử và ý nghĩa thời đại của Chiến dịch Hồ Chí Minh
Thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh là dấu mốc chói lọi khép lại cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài hơn hai thập kỷ của dân tộc Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, một dân tộc nhỏ bé đã đánh bại hoàn toàn một đối phương có tiềm lực kinh tế - quân sự hàng đầu thế giới, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa non sông thu về một mối.
Thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh trước hết là thắng lợi vĩ đại của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đồng lòng, tạo nên một sức mạnh to lớn. Từ hậu phương miền Bắc đến chiến trường miền Nam, từ nông thôn đến thành thị, từ các lực lượng vũ trang đến phong trào quần chúng nổi dậy, tất cả tạo thành một làn sóng cách mạng cuồn cuộn, cuốn trôi toàn bộ hệ thống thống trị của chính quyền Sài Gòn.
Chiến thắng này khẳng định sức mạnh to lớn của đường lối chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, giữa ý chí độc lập, tự chủ với sự vận dụng sáng tạo các quy luật của chiến tranh cách mạng. Từ việc tạo thế, tạo lực đến nắm bắt và phát huy thời cơ, từ tổ chức lực lượng đến chỉ đạo tác chiến, tất cả đều thể hiện trình độ phát triển cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại mới.
Quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vào thời điểm then chốt, với yêu cầu “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, đã cho thấy khả năng đánh giá chính xác tình hình, dám nghĩ, dám quyết và dám chịu trách nhiệm trước lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính sự quyết đoán đó đã biến thời cơ thành hiện thực, biến khả năng thành thắng lợi trọn vẹn.
Ở tầm vóc rộng lớn hơn, thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh đã tạo ra những tác động sâu sắc đối với khu vực và thế giới. Đó là một đòn giáng mạnh vào chủ nghĩa thực dân mới, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Việt Nam từ một quốc gia nhỏ bé đã trở thành biểu tượng của ý chí độc lập, của khát vọng tự do và niềm tin chiến thắng của các dân tộc bị áp bức trên thế giới.
Sáng sớm ngày 30/4/1975, từ khắp các hướng quân đội ta ào ạt tiến vào Sài Gòn. Quân ta nhanh chóng chiếm được Bộ tư lệnh không quân và Bộ tư lệnh sư đoàn dù của địch làm chủ sân bay Tân Sơn Nhất. Trong ảnh: Cờ giải phóng tung bay trên sân bay Tân Sơn Nhất, ngày 30/4/1975. Ảnh: Quang Thành/TTXVN
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng giá trị của Chiến dịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự. Đó không chỉ là bài học về ý chí và lòng yêu nước, mà còn là bài học sâu sắc về tư duy chiến lược, về khả năng chuẩn bị lâu dài, kiên trì tạo thế và nắm bắt thời cơ. Kiên trì vận dụng các bài học đó, Việt Nam ngày nay đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao vị thế và uy tín trên trường quốc tế.
Từ bản hùng ca mùa Xuân 1975, niềm tin vào sức mạnh của dân tộc tiếp tục được bồi đắp, trở thành động lực tinh thần để đất nước vững bước trên con đường phát triển, hiện thực hóa khát vọng xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.