Mô hình nuôi tôm công nghệ cao của ông Ngô Văn Đệ, Hợp tác xã nông nghiệp Long Khánh, xã Long Thành, tỉnh Vĩnh Long.
Hợp tác xã Nông nghiệp Long Khánh (xã Long Thành) là một trong những mô hình đang phát huy hiệu quả. Hiện hợp tác xã liên kết với khoảng 60 hộ nuôi tôm trên diện tích hơn 120 ha, gồm gần 200 ao nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh mật độ cao từ 150-200 con/m2. Mỗi năm, sản lượng đạt khoảng 800-1.200 tấn, doanh thu từ 130-150 tỷ đồng.
Theo ông Ngô Văn Đệ, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Nông nghiệp Long Khánh, những năm gần đây, hoạt động nuôi tôm chịu tác động rõ nét từ thời tiết cực đoan. Nắng nóng kéo dài, mưa thất thường khiến môi trường ao nuôi biến động, trong khi các bệnh nguy hiểm trên tôm như EHP, TPD, bệnh phân trắng diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất.
Một trong những khó khăn hiện nay là việc kiểm soát dịch bệnh trong vùng nuôi. Khi một số hộ xử lý chưa tốt nguồn nước thải sau dịch bệnh, nguy cơ lây lan sang các khu vực nuôi lân cận có thể gia tăng.
Để chủ động ứng phó, Hợp tác xã Nông nghiệp Long Khánh đã từng bước thay đổi phương thức sản xuất, kết hợp kinh nghiệm nuôi truyền thống với ứng dụng khoa học, kỹ thuật. Năm 2026, hợp tác xã liên kết với Công ty Tongwei đầu tư trung tâm xét nghiệm bệnh học thủy sản nhằm kiểm tra chất lượng nước, xét nghiệm mầm bệnh và kiểm soát con giống trước khi đưa vào nuôi.
Mô hình nuôi tôm công nghệ cao của ông Ngô Văn Đệ, Hợp tác xã nông nghiệp Long Khánh, xã Long Thành, tỉnh Vĩnh Long.
Theo ông Đệ, bên cạnh yếu tố kỹ thuật, bài toán đầu ra vẫn là một trong những vấn đề lớn đối với người nuôi tôm. Việc phụ thuộc nhiều vào thương lái khiến người nuôi gặp khó khăn khi thị trường biến động hoặc phải thu hoạch sớm do rủi ro dịch bệnh. Trong khi đó, giá con giống, thức ăn, thuốc, hóa chất và chi phí điện phục vụ sản xuất liên tục tăng, làm giảm lợi nhuận.
“Muốn ngành tôm phát triển ổn định cần xây dựng vùng sản xuất tập trung, tăng cường liên kết giữa người nuôi, hợp tác xã và doanh nghiệp để giảm chi phí đầu vào, chủ động đầu ra và nâng cao chất lượng sản phẩm”, ông Đệ cho biết.
Tại xã Đông Hải, Hợp tác xã Nông nghiệp Đông Hải cũng được thành lập với 54 thành viên nhằm tạo sự liên kết giữa các hộ nuôi tôm trên địa bàn. Ông Trương Hoàng Nghĩa, Phó Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Đông Hải, người có hơn 30 năm gắn bó với nghề nuôi tôm, cho rằng người nuôi hiện đang chịu tác động đồng thời từ ba yếu tố: môi trường nuôi thay đổi do biến đổi khí hậu, giá tôm giảm và chi phí sản xuất tăng.
Theo ông Nghĩa, khi sản xuất còn manh mún, mỗi hộ phải tự lo từ con giống, vật tư đến tiêu thụ sản phẩm, nên dễ gặp rủi ro khi dịch bệnh hoặc thị trường biến động. Vì vậy, việc hình thành các tổ chức liên kết sản xuất sẽ giúp các hộ thống nhất quy trình kỹ thuật, kiểm soát dịch bệnh, mua vật tư với số lượng lớn để giảm chi phí và nâng cao khả năng đàm phán với doanh nghiệp thu mua.
“Điều người nuôi cần là sự đồng hành của doanh nghiệp ngay từ đầu vụ, từ cung ứng giống, thức ăn, hỗ trợ kỹ thuật đến bao tiêu sản phẩm. Khi đầu vào và đầu ra được kết nối, người nuôi sẽ yên tâm đầu tư hơn”, ông Nghĩa chia sẻ.
Mô hình nuôi tôm công nghệ cao của ông Ngô Văn Đệ, Hợp tác xã nông nghiệp Long Khánh, xã Long Thành, tỉnh Vĩnh Long.
Cùng với việc tăng cường liên kết sản xuất, các hợp tác xã cũng kiến nghị cần tiếp tục đầu tư hạ tầng vùng nuôi, nhất là hệ thống cấp - thoát nước riêng biệt; hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và xây dựng vùng nuôi đạt các tiêu chuẩn như VietGAP, ASC, BAP nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Theo ông Thái Phước Lộc, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã tỉnh Vĩnh Long, trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp chịu nhiều tác động từ biến đổi khí hậu và cạnh tranh thị trường, phát triển kinh tế tập thể cần hướng đến nâng cao chất lượng hoạt động, tạo lợi ích thực chất cho thành viên.
Hợp tác xã không chỉ là nơi tập hợp nông dân mà cần trở thành cầu nối giữa người sản xuất với doanh nghiệp, tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường. Chuỗi liên kết hiệu quả phải được hình thành từ khâu cung ứng giống, vật tư, tổ chức sản xuất, thu hoạch, sơ chế, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm.
Theo báo cáo của UBND tỉnh Vĩnh Long, trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có gần 63.777 ha nuôi trồng thủy sản, với 44.875 hộ nuôi, sản lượng đạt 296.470 tấn, tăng 4,86% so với cùng kỳ năm trước. Riêng diện tích nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao đạt 6.325 ha, sản lượng khoảng 61.000 tấn.
Vĩnh Long đang định hướng phát triển ngành thủy sản theo hướng hiện đại, bền vững, ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đến cuối năm 2026, tỉnh phấn đấu phát triển khoảng 8.175 ha vùng nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao, gắn với xây dựng vùng nguyên liệu tập trung phục vụ chế biến và xuất khẩu.
Kỹ sư Trần Huy Hoàng, Hợp tác xã nông nghiệp Long Khánh, xã Long Thành, tỉnh Vĩnh Long, kiểm tra sinh trưởng tôm nuôi.
Địa phương cũng tập trung hỗ trợ liên kết giữa người nuôi, hợp tác xã và doanh nghiệp; đầu tư hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, hệ thống cấp - thoát nước; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất giống, kho lạnh, logistics và chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị sản phẩm tôm.
Giai đoạn 2026-2030, tỉnh triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã, tập trung vào đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản trị, hỗ trợ hạ tầng sản xuất, thúc đẩy chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và mở rộng liên kết với doanh nghiệp.
Thực tế từ các mô hình hợp tác xã nuôi tôm tại Vĩnh Long cho thấy, liên kết chuỗi giá trị đang trở thành hướng đi cần thiết để nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm thiểu rủi ro và tăng sức cạnh tranh. Đây cũng là nền tảng để ngành tôm của tỉnh phát triển theo hướng hiện đại, bền vững, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.