Malaysia và bài toán giữa chủ quyền và hội nhập - Bài 1: Không chỉ là trạng thái pháp lý

Theo bài phân tích trên trang malaysiakini.com, hiếm khi Canada lại trở thành tâm điểm chú ý tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) như Hội nghị ở Davos, Thụy Sĩ vừa qua.

Trước đây, Canada thường đưa ra chính sách ngoại giao an toàn, dựa trên sự đồng thuận và ủng hộ chủ nghĩa đa phương. Tuy nhiên, có lẽ chính cú sốc từ việc Tổng thống Mỹ Donald Trump yêu cầu Đan Mạch "giao nộp" Greenland cuối cùng đã thúc đẩy Canada phải hành động.

Chú thích ảnh
Thủ tướng Mark Carney phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, ngày 20/1/2026. Ảnh: AP

Phát biểu tại Davos, Thủ tướng Mark Carney thẳng thắn chia sẻ thế giới đang sống trong thời đại cạnh tranh giữa các cường quốc. Trật tự dựa trên luật lệ đang dần phai nhạt và thực chất chỉ là một "tấm lá chắn", nơi kẻ mạnh tự miễn trừ mình khỏi quy tắc và kẻ yếu buộc phải phục tùng. Trong bối cảnh đó, việc các quốc gia tầm trung nỗ lực đàm phán song phương với một cường quốc là một cuộc đối đầu không cân sức, với kết cục là sự lệ thuộc núp bóng hội nhập.

Lời cảnh báo này đã đập tan ảo tưởng rằng các nước tầm trung chỉ cần hành xử đúng mực là sẽ được bảo vệ. Thông điệp từ Davos đã đặt ra một thực tế nghiệt ngã cho các quốc gia như Malaysia: chủ quyền không còn đơn thuần là một trạng thái pháp lý mà là một năng lực thực tế phải được xây dựng từ bên trong.

Khi hội nhập không đồng nghĩa với lệ thuộc

Trong năm 2025, Malaysia đã đạt được nhiều thành công trong trên cương vị Chủ tịch ASEAN, ký kết Thỏa thuận đối ứng (ART) với Mỹ, đồng thời thu hút được hàng loạt khoản đầu tư nước ngoài khổng lồ vào các trung tâm dữ liệu.

Mặc dù kết quả Hội nghị Cấp cao ASEAN đã khẳng định được vai trò và vị thế của Malaysia trên trường quốc tế, song ngoài những bức ảnh chụp chung giữa các lãnh đạo và các tuyên bố chính thức, ASEAN hầu như không đạt được tiến triển thực chất nào về các vấn đề quan trọng nhất như tình hình Palestine, Ukraine hay Myanmar. Bên cạnh đó, ASEAN cũng không có lập trường chung trong vấn đề thuế quan, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển Trí tuệ nhân tạo (AI), quản lý nợ công hay quản trị về công nghệ.

Đáng chú ý, thỏa thuận đối ứng đã buộc các nhà lãnh đạo phải tham khảo ý kiến của Mỹ trước khi ký kết một số thỏa thuận quốc tế nhất định. Malaysia đã phải nhượng bộ quá mức để đổi lấy việc giảm thuế mang tính tượng trưng. Tuy nhiên, mọi thứ không hẳn đều tồi tệ. Malaysia đã chứng minh khả năng của mình trong vai trò trung gian, giúp các bên xích lại gần nhau hơn.

Ngoài ra, nhiều người Malaysia lo ngại rằng các trung tâm dữ liệu siêu lớn sẽ tiêu thụ lượng điện và nước tương đương với một thành phố nhỏ. Trước đây, Malaysia từng thu hút được nguồn vốn đầu tư nước ngoài thông qua lợi thế về lao động giá rẻ và nền chính trị ổn định. Tuy nhiên, giờ nay Malaysia cần đánh giá lại vấn đề năng lượng và nguồn nước để đáp ứng nhu cầu của các trung tâm dữ liệu.

Quan trọng hơn, liệu những khoản đầu tư này có khiến Malaysia phụ thuộc sâu hơn vào các hệ sinh thái công nghệ nước ngoài, chủ yếu là của Mỹ? Sẽ đến thời điểm lợi thế kinh tế có thể trở thành “sợi xích” ràng buộc Malaysia, đặc biệt là khi Mỹ đang công khai tìm cách kiềm chế Trung Quốc thông qua việc kiểm soát dòng chảy dầu mỏ, hạn chế tiếp cận thị trường và sự thống trị trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược như viễn thông, AI, điện toán lượng tử và truyền thông toàn cầu.

Trong tầm ngắm cạnh tranh địa chính trị

Malaysia là đối tác thương mại quan trọng của Trung Quốc, đồng thời nằm ở khu vực Biển Đông có vị trí chiến lược then chốt. Vì vậy dù muốn hay không, Malaysia cũng nằm trong phạm vi cạnh tranh ảnh hưởng giữa các cường quốc. Câu hỏi được đặt ra bây giờ là làm thế nào để Malaysia giữ vững được vị thế và chủ quyền, đồng thời biến thách thức thành cơ hội giữa bối cảnh nhiều rủi ro như vậy.

Có lẽ đã đến lúc Malaysia cần xem xét lại chiến lược phát triển của mình. Vào những năm 1980, định hướng công nghiệp hóa theo hướng ưu tiên xuất khẩu là giải pháp đúng đắn cho nước này. Thông qua việc kết nối với chuỗi cung ứng toàn cầu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài và chuyên môn hóa trong sản xuất, Malaysia đã giúp hàng triệu người dân thoát nghèo và chuyển mình từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế bán công nghiệp hóa. Mô hình này được xây dựng dựa trên một hệ thống thương mại toàn cầu tương đối mở, các quy tắc có thể dự đoán được và sự lưu thông tự do của hàng hóa, cũng như nguồn vốn và công nghệ.

Tuy nhiên, chính hoạt động thương mại ngày nay đang ngày càng bị biến thành một loại “vũ khí”. Các biện pháp thuế quan, lệnh trừng phạt, kiểm soát xuất khẩu, trợ cấp công nghiệp và ưu tiên nhập khẩu hàng hóa từ các đối tác thân thiện đã trở thành một công cụ trong cuộc chiến cạnh tranh giữa các cường quốc. Các chuỗi cung ứng từng mang lại hiệu quả tốt trong quá khứ thì giờ đây lại bộc lộ những điểm yếu. Một sự gián đoạn ở Biển Đỏ, hạn hán ở một quốc gia xuất khẩu ngũ cốc, hoặc một cuộc tranh chấp địa chính trị giữa các cường quốc lớn đều có thể ngay lập tức ảnh hưởng đến giá cả và tình trạng thiếu hụt hàng hóa trong nước.

Bên cạnh đó, một sự chuyển biến âm thầm nhưng không kém phần quan trọng khác là nhu cầu nội địa của ASEAN đang tăng lên. Với tổng dân số hơn 670 triệu người, tầng lớp trung lưu ngày càng mở rộng và quá trình đô thị hóa tăng tốc, Đông Nam Á không còn chỉ là cơ sở sản xuất cho các nước khác mà đang trở thành một thị trường tiêu dùng lớn.

Dựa trên những yếu tố đó, đã đến lúc Malaysia xem xét lại chiến lược tự sản xuất trong nước như một sự bổ sung chiến lược cho tăng trưởng xuất khẩu. Điều này không có nghĩa là các quốc gia sẽ đóng cửa biên giới, mà là cần nâng cao năng lực trong các lĩnh vực quan trọng ở cả cấp độ quốc gia và khu vực, trong đó bao gồm ưu tiên mua hàng hóa từ các quốc gia Đông Nam Á trước. (Còn tiếp)

Bài cuối: Vai trò của tự chủ sản xuất

Thành Trung (TTXVN tại Kuala Lumpur)
Malaysia công bố dự luật mới về an ninh mạng nhằm kiểm soát AI và Deepfake
Malaysia công bố dự luật mới về an ninh mạng nhằm kiểm soát AI và Deepfake

Theo phóng viên TTXVN tại Kuala Lumpur, Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim vừa thông báo kế hoạch ban hành Dự luật Tội phạm mạng mới nhằm đối phó với các mối đe dọa kỹ thuật số ngày càng phức tạp, bao gồm việc lạm dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và Deepfake (công nghệ giả mạo bằng trí tuệ nhân tạo).

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN