Người dân mua sắm tại siêu thị ở San Mateo, California, Mỹ. Ảnh: THX/TTXVN
Tại Mỹ, Anh, Pháp, Italy và Nhật Bản, nợ công đang ở mức kỷ lục hoặc cận kỷ lục. Các khoản trả lãi ngày càng lớn đang “ăn” vào nguồn lực ngân sách, vốn có thể dành cho y tế, hạ tầng cơ sở, nhà ở xã hội, đổi mới công nghệ hay giáo dục. “Cơn khát” vay nợ cũng đẩy chi phí đi vay tăng cao, buộc ngân sách phải dành tỷ trọng lớn hơn cho nghĩa vụ trả nợ. Hệ lụy lan sang cả khu vực tư nhân, khiến lãi suất vay vốn kinh doanh, vay tiêu dùng - từ mua ô tô, thế chấp nhà đến thẻ tín dụng - chịu áp lực tăng, qua đó góp phần làm gia tăng nguy cơ lạm phát.
Đáng lo ngại hơn, nợ công tại các quốc gia phát triển tiếp tục “phình to” ngay cả khi nền kinh tế tương đối ổn định và tỷ lệ thất nghiệp thấp, như trường hợp của Mỹ. Điều này khiến các chính phủ có ít dư địa chính sách để ứng phó khi tình hình chuyển xấu.
Giáo sư Kenneth Rogoff của Đại học Harvard cho rằng các chính phủ cần có khả năng “chi tiêu lớn và chi nhanh” khi cần, chẳng hạn trước khủng hoảng tài chính, đại dịch, chiến tranh, hoặc khi phải tăng chi cho an sinh và hỗ trợ thất nghiệp do tác động của trí tuệ nhân tạo (AI) hay thiên tai liên quan đến khí hậu. Tuy nhiên, khi nợ công đã ở mức rất cao, việc huy động vốn nhanh trở nên khó khăn và tốn kém hơn.
Bên lề Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) tại Davos (Thụy Sĩ) từ ngày 19 - 23/1, nhiều bộ trưởng tài chính đã bày tỏ lo ngại về khả năng chi trả cho danh mục nhu cầu thiết yếu ngày càng dài: từ tăng chi quốc phòng đến nâng cấp lưới điện dành cho các trung tâm dữ liệu AI.
Chu kỳ vay nợ tăng tốc tại các nước giàu, bắt đầu từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008-2009. Vào thời điểm đó, các chính phủ vội vã tung hàng loạt gói hỗ trợ hộ gia đình trong lúc nguồn thu thuế sụt giảm. Các chương trình cứu trợ trong đại dịch COVID-19 tiếp tục đẩy nợ công lên một ngưỡng mới, khi nền kinh tế gần như đóng cửa, chi phí y tế tăng vọt, trong khi lãi suất tăng và vượt tốc độ tăng trưởng. Từ đó đến nay, nợ công không những không giảm mà còn duy trì ở mức cao. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tại 6/7 quốc gia thuộc Nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7), nợ quốc gia hiện đã bằng hoặc vượt tổng sản lượng kinh tế hằng năm.
Bài toán càng khó khi nhiều nước đồng thời đối mặt già hóa dân số và tăng trưởng chậm. Ở châu Âu, Anh và Nhật Bản, chi phí y tế và lương hưu tăng lên trong khi lực lượng lao động - nguồn tạo thu thuế - co lại. Cùng lúc, nhu cầu tái thiết hạ tầng và đầu tư công nghệ cao trở nên cấp bách.
Một nghiên cứu kéo dài một năm do cơ quan điều hành Liên minh châu Âu (EU) yêu cầu thực hiện đã kết luận rằng khối này cần chi thêm khoảng 900 tỷ USD cho các lĩnh vực như AI, lưới điện dùng chung, siêu máy tính và đào tạo lực lượng lao động trình độ cao để duy trì năng lực cạnh tranh. Tại Anh, tổ chức nghiên cứu Diễn đàn Quản trị Tương lai ước tính việc nâng cấp hạ tầng trong một thập kỷ tới sẽ tiêu tốn ít nhất 300 tỷ bảng Anh (khoảng 410 tỷ USD), cùng hàng tỷ bảng khác để vực dậy hệ thống y tế công NHS đang gặp nhiều khó khăn.
Người tiêu dùng mua sắm tại siêu thị ở Manchester, Anh. Ảnh: THX/TTXVN
Tuy nhiên, các nỗ lực thắt chặt chi tiêu công lại vấp phải phản ứng xã hội. Tại Italy - nơi nợ công tương đương 138% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) - chính phủ đã gặp khó trước các đề xuất cắt giảm chi cho y tế, giáo dục và dịch vụ công. Tại Pháp, kế hoạch nâng tuổi nghỉ hưu từng châm ngòi các cuộc biểu tình, trong bối cảnh nước này cũng rơi vào bế tắc chính trị kéo dài liên quan đến ngân sách và bị hạ bậc tín nhiệm nợ công vào mùa Thu năm 2025, làm dấy lên câu hỏi về ổn định tài chính.
Trong khi đó, chi tiêu quốc phòng tại các nền kinh tế phát triển lại tăng lên đáng kể. Các thành viên Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đã nhất trí hướng tới mục tiêu dành 5% GDP cho quốc phòng vào năm 2035, thay vì mức 2% GDP trước kia. Nhật Bản cũng đang mở rộng ngân sách quân sự, bất chấp việc nợ công của nước này hiện đã vượt hơn hai lần quy mô sản lượng kinh tế hằng năm.
Tại Nhật Bản, triển vọng “hố nợ” sâu hơn xuất hiện khi Thủ tướng Sanae Takaichi bất ngờ kêu gọi bầu cử sớm. Cả đảng Dân chủ Tự do (LDP) cầm quyền và các đảng đối lập đều đưa ra cam kết tăng chi, giảm thuế. Trong đó, đề xuất tạm dừng thuế tiêu dùng đối với thực phẩm và đồ uống không cồn được Bộ Tài chính Nhật Bản ước tính có thể khiến ngân sách hụt hơn 30 tỷ USD mỗi năm.
Trong nhiều thập kỷ, Chính phủ Nhật bản có khả năng tài trợ chi tiêu cao nhờ lãi suất rất thấp, giúp chi phí đi vay nhỏ. Tuy nhiên, Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) đã bắt đầu đảo chiều chính sách lãi suất siêu thấp từ năm 2024. Theo Giáo sư Rogoff, nợ của Nhật đã “len” sâu vào hệ thống tài chính - từ quỹ hưu trí, doanh nghiệp bảo hiểm đến ngân hàng - trong bối cảnh áp lực lạm phát hiện hữu.
Sự xáo trộn trên thị trường trái phiếu Nhật Bản cũng có thể lan sang các thị trường khác. Nhật Bản là một trong những chủ nợ nước ngoài lớn nhất của trái phiếu Kho bạc Mỹ. Nếu lợi suất trái phiếu Nhật tăng hấp dẫn hơn, nhà đầu tư có thể giảm mua nợ Mỹ để quay về thị trường trong nước. Thực tế, trong tuần cuối tháng 1/2026, lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm đã tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 8/2025.
Tại Mỹ, nợ quốc gia hiện đã chạm mốc 38.000 tỷ USD, tương đương khoảng 125% quy mô nền kinh tế. Trong 5 năm qua, chi trả lãi ròng nợ công đã tăng gấp ba, lên khoảng 1.000 tỷ USD, chiếm khoảng 15% tổng chi liên bang - khoản chi lớn thứ hai sau an sinh xã hội. Nhiều ý kiến cảnh báo viễn cảnh nợ công tiếp tục tăng có thể làm suy yếu vai trò dẫn dắt kinh tế của Mỹ và bào mòn niềm tin của nhà đầu tư vào trái phiếu Kho bạc cũng như đồng USD. Đồng thời, điều này còn làm gia tăng gánh nặng cho các thế hệ tương lai.
Trong bối cảnh đó, nợ công kỷ lục tại các nền kinh tế phát triển đang trở thành một biến số lớn chi phối triển vọng tăng trưởng toàn cầu, khi dư địa chính sách tài khóa thu hẹp đúng lúc thế giới cần thêm nguồn lực cho chuyển đổi công nghệ, nâng cấp hạ tầng và ứng phó các cú sốc mới.