Phân loại, cấp đông cá tra phi lê xuất khẩu tại nhà máy của Công ty CP Gò Đàng Tiền Giang (tỉnh Tiền Giang cũ). Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN
Trong số đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt 25,66 tỷ USD, tăng 2,7%; sản phẩm chăn nuôi đạt 511,9 triệu USD, tăng 30%; thủy sản đạt 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%; lâm sản đạt 12,57 tỷ USD, tăng 5,4%...
Xét theo vùng lãnh thổ, châu Á là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng nông, lâm, thủy sản chính của Việt Nam với thị phần chiếm 45,5%. Hai thị trường lớn tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu với thị phần lần lượt là 21,5% và 13,4%. Thị phần của 2 khu vực châu Phi và châu Đại Dương nhỏ, chiếm lần lượt 2,3% và 1,5%. So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản chính của Việt Nam sang khu vực châu Á tăng 11,3%; châu Mỹ tăng 0,6%; châu Âu tăng 1,7%; châu Đại Dương tăng 16,4%; trong khi châu Phi giảm 18,3%.
Xét theo thị trường chi tiết, Trung Quốc với thị phần 22,7%, Hoa Kỳ với thị phần 19,1% và Nhật Bản với thị phần 6,8%. Đây là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản chính lớn nhất của Việt Nam.
Trong 8 tháng, hạt tiêu, hạt điều và hàng rau quả là những mặt hàng ghi nhận tăng trưởng về giá trị xuất khẩu so với cùng kỳ năm 2025. Mặt hàng rau quả tăng mạnh nhất với 6,02 tỷ USD, tăng 24,9%; tiếp đến là hạt tiêu đạt 1,24 tỷ USD, tăng 9,6% và hạt điều đạt 3,35 tỷ USD, tăng 2%.
Đáng chú ý, hạt điều là mặt hàng duy nhất trong nhóm này có khối lượng xuất khẩu giảm nhưng giá trị vẫn tăng. Cụ thể, khối lượng xuất khẩu giảm 1,7%, trong khi giá trị tăng 2%, nhờ giá xuất khẩu bình quân tăng 3,7%, lên 7.058 USD/tấn. Với hạt tiêu, giá trị xuất khẩu tăng 9,6% dù giá xuất khẩu bình quân giảm 4,3%, cho thấy tăng trưởng chủ yếu đến từ khối lượng xuất khẩu tăng 14,5%.
Ở chiều ngược lại, cà phê, cao su, chè, gạo và sắn cùng các sản phẩm từ sắn đều ghi nhận giảm giá trị xuất khẩu. Trong số đó, gạo giảm mạnh nhất 11,9%, xuống còn 2,86 tỷ USD; tiếp đến là cà phê giảm 9,1%; cao su giảm 6,2%; sắn và các sản phẩm từ sắn giảm 2,5% còn chè giảm 2%.
Điểm đáng chú ý là cà phê, cao su và sắn đều có khối lượng xuất khẩu giảm hoặc tăng nhưng giá trị chịu tác động khác nhau từ giá xuất khẩu. Với cà phê, khối lượng tăng 13,1% nhưng giá trị lại giảm 9,1% do giá xuất khẩu bình quân giảm tới 19,7%. Cao su cũng giảm 16,1% về khối lượng, trong khi giá xuất khẩu bình quân tăng 11,9%, nhưng chưa đủ bù đắp mức giảm về lượng, khiến giá trị giảm 6,2%.
Gạo chịu sức ép kép khi cả khối lượng và giá xuất khẩu đều giảm, lần lượt 6,3% và 6%, khiến giá trị xuất khẩu giảm 11,9%. Trong khi đó, chè giảm 10,2% về khối lượng nhưng giá xuất khẩu bình quân tăng 9,1%, nên giá trị chỉ giảm 2%.
Ở chiều nhập khẩu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, giá trị nhập khẩu nông, lâm, thủy sản tiếp tục tăng trưởng chậm lại khi giá trị nhập khẩu tháng 8 giảm so với tháng trước (giảm 9,9%) cũng như cùng kỳ năm trước (giảm 7,4%). Tổng giá trị nhập khẩu nông, lâm, thủy sản lũy kế 8 tháng ước đạt 35,06 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Xét theo thị trường chi tiết, Hoa Kỳ, Trung Quốc, và Campuchia, là 3 thị trường cung cấp các mặt hàng nông lâm thủy sản chính lớn nhất cho Việt Nam với thị phần lần lượt là 10,2%, 9,7%, và 7,2%. So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị nhập khẩu nông lâm thủy sản chính của Việt Nam 8 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Hoa Kỳ tăng 22,4%, Trung Quốc tăng 8% và Campuchia tăng 21,7%.