Quá trình chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp vì thế không còn là khẩu hiệu, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và biến động mạnh của thị trường nông sản thế giới.
Thay đổi tư duy phát triển
Sầu riêng Đắk Lắk được dán tem, sẵn sàng xuất khẩu. Ảnh: Hoài Thu/TTXVN
Định hướng chung của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường đối với sản xuất nông nghiệp của nước ta trong thời gian tới chính là chuyển đổi mạnh từ sản xuất nông nghiệp sang nền kinh tế nông nghiệp. Trong nhiều năm, nông nghiệp Tây Nguyên phát triển chủ yếu dựa vào lợi thế tự nhiên: đất bazan màu mỡ, khí hậu phù hợp với cây công nghiệp và cây ăn quả.
Tuy nhiên, khi các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn chất lượng, mô hình sản xuất nhỏ lẻ, manh mún đã bộc lộ những giới hạn rõ rệt. Nhiều mặt hàng nông sản tăng trưởng nhanh nhưng tiềm ẩn rủi ro lớn về thị trường và chất lượng, đặc biệt là khi phụ thuộc vào một số thị trường xuất khẩu chủ lực. Việc thay đổi chính sách nhập khẩu, kiểm dịch hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật có thể tác động dây chuyền đến toàn bộ chuỗi sản xuất trong nước.
Thực tế với ngành sầu riêng - một ngành hàng tăng trưởng nóng - đã cho thấy rõ áp lực này. Các yêu cầu về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và kiểm soát an toàn thực phẩm ngày càng khắt khe; chỉ cần vi phạm một tiêu chuẩn, lô hàng có thể bị tạm dừng hoặc thu hồi mã số xuất khẩu.
Những biến động đó buộc nông nghiệp Tây Nguyên phải thay đổi tư duy: từ chạy theo sản lượng sang chú trọng chất lượng; từ sản xuất manh mún sang tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị; từ phụ thuộc thị trường sang chủ động đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
Từ góc nhìn của doanh nghiệp xuất khẩu chuối, bà Lê Thị Mỹ Hạnh, Công ty cổ phần Banana Brothers Farm (Đắk Lắk), cho rằng con đường duy nhất để nông sản Tây Nguyên phát triển bền vững là từ cung cấp nguyên liệu bước lên mô hình sản xuất lớn - tiêu chuẩn cao - xuất khẩu chính ngạch.
“Doanh nghiệp phải đầu tư vào vùng nguyên liệu, kho lạnh, chế biến, nhà máy đóng gói và mở rộng thị trường xuất khẩu; khi nông dân tuân thủ quy trình kỹ thuật và mã số vùng trồng, chuỗi giá trị mới hình thành bền vững”, bà Hạnh nhấn mạnh.
“Xương sống” của kinh tế nông nghiệp
Thu hoạch cà phê tại Đắk Lắk. Ảnh: Hoài Thu/TTXVN
Định hướng phát triển của các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản và sản xuất hàng hóa từ nông sản hiện nay đều thống nhất ở một điểm: trong mô hình kinh tế nông nghiệp hiện đại, chuỗi giá trị giữ vai trò “xương sống”, quyết định hiệu quả và sức cạnh tranh của toàn ngành. Quan điểm này phù hợp với tinh thần Nghị quyết 68/NQ-CP về phát triển kinh tế tư nhân, trong đó xác định doanh nghiệp tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế, giữ vai trò dẫn dắt đổi mới sáng tạo, tổ chức lại sản xuất và kết nối thị trường.
Vai trò của doanh nghiệp và các hiệp hội ngành hàng vì thế phải được đặt ở vị trí chủ thể trong tổ chức chuỗi giá trị. Doanh nghiệp không chỉ tham gia khâu thu mua, chế biến mà còn tham gia xây dựng vùng nguyên liệu, chuyển giao kỹ thuật, chuẩn hóa quy trình sản xuất và phát triển thị trường xuất khẩu; hiệp hội đóng vai trò kết nối, định hướng tiêu chuẩn và hỗ trợ xây dựng thương hiệu ngành hàng.
“Trong bối cảnh phát triển kinh tế nông nghiệp, doanh nghiệp phải đóng vai trò dẫn dắt chuỗi giá trị, từ tổ chức vùng nguyên liệu đến chế biến và thị trường tiêu thụ; còn hợp tác xã là cầu nối giữa nông dân với doanh nghiệp”, ông Cao Thanh Thương, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai nhấn mạnh.
Điều đáng chú ý là liên kết trong kinh tế nông nghiệp hiện đại không chỉ dừng ở cấp độ hộ với hộ hay nông dân với hợp tác xã, mà phải tiến tới liên kết ở cấp độ cao hơn, giữa các hợp tác xã với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp trong cùng chuỗi giá trị. Chính sự liên kết đa tầng này mới tạo nên những chuỗi sản xuất - chế biến - tiêu thụ có quy mô lớn và đủ năng lực cạnh tranh quốc tế.
Trong khi đó, Hiệp hội Cà phê Buôn Ma Thuột xác định rằng, sự cạnh tranh toàn cầu hiện nay không còn nằm ở số lượng mà nằm ở chất lượng, công nghệ và bản sắc vùng trồng. “Ngành cà phê Việt Nam đang chuyển từ xuất khẩu nguyên liệu sang xây dựng thương hiệu vùng trồng, phát triển cà phê chất lượng cao và truy xuất nguồn gốc hoàn chỉnh. Ở đó, đổi mới sáng tạo và công nghệ là trục phát triển cốt lõi của chuỗi giá trị cà phê trong giai đoạn hội nhập sâu rộng”, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê Buôn Ma Thuột Trịnh Đức Minh nêu rõ.
Công nhân Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Vương Thành Công rang xay cà phê để phục vụ cho thị trường Tết. Ảnh: Hoài Thu/TTXVN
Sự chuyển dịch này cho thấy chuỗi giá trị không chỉ giúp kiểm soát chất lượng sản phẩm mà còn tạo nền tảng để xây dựng thương hiệu nông sản và nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế. Các doanh nghiệp công nghệ nông nghiệp cũng nhìn nhận dữ liệu và số hóa là yếu tố quyết định hiệu quả chuỗi giá trị. Các nền tảng truy xuất nguồn gốc và quản lý vùng nguyên liệu đang được triển khai nhằm số hóa toàn bộ quy trình sản xuất, kết nối nông dân với doanh nghiệp và thị trường tiêu thụ. Nếu “chuỗi công nghệ” bị đứt gãy, thì chuỗi giá trị cũng sẽ bị gián đoạn.
Điều đó đồng nghĩa rằng kinh tế nông nghiệp không chỉ là câu chuyện của diện tích hay sản lượng, mà là sự vận hành của một hệ sinh thái liên kết dữ liệu, tiêu chuẩn và công nghệ trở thành yếu tố cốt lõi.
Trong mô hình phát triển mới, Gia Lai đảm nhận vai trò trung tâm vùng nguyên liệu và chăn nuôi hàng hóa quy mô lớn, trong khi Đắk Lắk giữ vị trí trung tâm chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và xuất khẩu các sản phẩm hàng hóa từ nông nghiệp. Sự bổ trợ này tạo nên một hệ sinh thái kinh tế nông nghiệp liên vùng, liên thông từ sản xuất, chăn nuôi đến chế biến và thị trường.
Quá trình chuẩn hóa, ứng dụng công nghệ và tăng cường liên kết chuỗi giá trị cho thấy nông nghiệp Tây Nguyên đang chuyển từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp, làm gia tăng giá trị nông sản qua từng công đoạn chế biến và thị trường.