Rừng tự nhiên “biến thành” rừng sản xuất
Một khung cảnh rất ngổn ngang sau khi người dân chặt phá rừng tại xã Bố Trạch (Quảng Trị).
Báo cáo của UBND xã Bố Trạch cho thấy, gốc rễ của những bất cập trong quản lý rừng hiện nay bắt đầu từ quá trình triển khai Dự án vùng đệm Phong Nha - Kẻ Bàng từ năm 2011 tại địa bàn xã Hưng Trạch (cũ), nay thuộc xã Bố Trạch. Dự án được thiết kế với mục tiêu kép gồm phục hồi hệ sinh thái rừng tự nhiên thông qua khoanh nuôi tái sinh, đồng thời hỗ trợ sinh kế cho người dân bằng việc trồng bổ sung các loài cây bản địa.
Theo hồ sơ, có 157 hộ tham gia với tổng diện tích hơn 263 ha, gồm nhiều loại hình như: khoanh nuôi không trồng bổ sung, khoanh nuôi có trồng bổ sung và trồng cây bản địa như huỳnh, trám. Sau quá trình rà soát, diện tích rừng tự nhiên còn lại được xác định hơn 168 ha, giao cho 117 hộ quản lý, bảo vệ.
Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh ở khâu hoàn tất thủ tục pháp lý. Khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân, toàn bộ diện tích này lại được xác định là “đất có rừng trồng sản xuất”, thay vì phản ánh đúng bản chất là rừng tự nhiên cần được bảo vệ nghiêm ngặt.
Ông Phan Ngọc Lâm, Phó Chủ tịch UBND xã Bố Trạch thẳng thắn cho biết, sai lệch này đã tồn tại trong thời gian dài nhưng chưa được điều chỉnh. Theo ông Lâm, đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật trong quản lý đất đai, mà là một “lệch chuẩn” ngay từ khâu định danh tài nguyên, dẫn đến hệ quả kéo dài nhiều năm.
Trên thực tế, sự khác biệt giữa rừng tự nhiên và rừng sản xuất không chỉ nằm ở tên gọi, mà kéo theo các chế độ quản lý hoàn toàn khác nhau. Nếu rừng tự nhiên là đối tượng phải được bảo vệ nghiêm ngặt, thì rừng trồng sản xuất lại cho phép khai thác, cải tạo và trồng lại theo chu kỳ kinh tế. Khi cùng một diện tích nhưng bị “định danh” theo hai cách khác nhau, chính nền tảng quản lý đã bị đặt trong trạng thái sai lệch.
Tại xã Bố Trạch (Quảng Trị) có 23 điểm biến động rừng tự nhiên với tổng diện tích 28,81 ha.
Từ đó, cách hiểu của người dân cũng thay đổi theo. Nhiều hộ cho rằng, họ chỉ thực hiện quyền sử dụng đất dựa trên giấy tờ được cấp. Trong bối cảnh cây bản địa sinh trưởng chậm, hiệu quả kinh tế không rõ ràng, trong khi keo mang lại thu nhập nhanh, việc chuyển đổi sang trồng rừng sản xuất trở thành lựa chọn mang tính sinh kế.
Thực tế tại các thôn Cổ Giang 1, Cổ Giang 2 (xã Bố Trạch) cho thấy, quá trình chuyển đổi này diễn ra âm thầm nhưng kéo dài. Từ những trường hợp nhỏ lẻ ban đầu, dần hình thành xu hướng trong một bộ phận người dân. Hành vi tác động đến rừng vì vậy không còn bị nhìn nhận rõ ràng là vi phạm, mà bị “hợp thức hóa” theo cách hiểu từ giấy tờ pháp lý.
Ông Đoàn Văn Ngãi, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Bố Trạch nhận định, chính sự sai lệch ngay từ khâu xác lập hồ sơ đã khiến công tác bảo vệ rừng mất đi điểm tựa quan trọng. Khi nền tảng pháp lý không phản ánh đúng bản chất tài nguyên, việc định hướng quản lý và kiểm soát hành vi từ đầu đã gặp nhiều bất cập.
Có thể thấy, việc “định danh sai” không chỉ là một lỗi hành chính đơn thuần, mà là nguyên nhân khởi phát của chuỗi hệ lụy kéo dài. Khi tên gọi không đúng với bản chất, mọi công cụ quản lý đi kèm cũng khó phát huy hiệu lực như kỳ vọng.
Bế tắc trong xử lý và những hệ lụy
Các khu vực rừng tại xã Bố Trạch (Quảng Trị) bị tác động, chặt phá qua theo dõi vệ tinh. Ảnh: TTXVN phát
Từ sai lệch trong khâu “định danh” đất rừng, một thực tế đáng lo ngại đã xuất hiện trong nhiều năm qua, đó là tình trạng bế tắc trong xử lý các hành vi xâm hại rừng tự nhiên.
Theo ông Đoàn Văn Ngãi, lực lượng kiểm lâm không ít lần phát hiện các vụ chặt phá rừng với quy mô lớn, lập hồ sơ đầy đủ, thậm chí có trường hợp đủ yếu tố để xem xét xử lý hình sự. Tuy nhiên, khi đối chiếu với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc xác định hành vi vi phạm lại gặp trở ngại.
“Giấy chứng nhận ghi là rừng sản xuất, trong khi thực tế là rừng tự nhiên. Khi căn cứ pháp lý không rõ ràng, việc xử lý rất khó khăn, thậm chí không thể thực hiện”, ông Đoàn Văn Ngãi cho biết.
Một trường hợp điển hình xảy ra năm 2024, khi một hộ dân phá hơn 2,4 ha rừng. Hồ sơ đã được lập, các bước xử lý được tiến hành, nhưng cuối cùng vẫn phải dừng lại do không đủ cơ sở pháp lý. Sau đó, diện tích này tiếp tục được chuyển sang trồng keo mà không thể ngăn chặn triệt để.
Ông Phan Ngọc Lâm cũng thừa nhận, nhiều vụ việc tương tự chỉ dừng ở mức tuyên truyền, vận động. Việc không xử lý được dứt điểm đã làm suy giảm hiệu lực răn đe, tạo ra tâm lý chủ quan trong một bộ phận người dân.
Thực tế cho thấy, khi một hành vi vi phạm không bị xử lý, nó dễ trở thành tiền lệ. Từ chỗ lén lút, việc chặt rừng dần chuyển sang công khai hơn, với quy mô lớn hơn. Tâm lý “người khác làm được thì mình cũng làm” bắt đầu lan rộng, khiến công tác bảo vệ rừng ngày càng gặp nhiều áp lực.
Phóng viên TTXVN Tá Chuyên (phải) ghi nhận thông tin, hình ảnh tại hiện trường phá rừng ở xã Bố Trạch, Quảng Trị. Ảnh: TTXVN phát
Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương, khi thực hiện chính quyền hai cấp và dừng hoạt động cấp huyện, cũng phần nào làm gián đoạn việc rà soát, điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đây là một trong những nguyên nhân khiến “nút thắt” pháp lý kéo dài, chưa được tháo gỡ kịp thời.
Hệ quả không chỉ dừng ở khía cạnh xử lý vi phạm, mà còn lan sang hiệu quả quản trị nói chung. Khi công cụ pháp lý không đủ sức ràng buộc, các biện pháp tuần tra, kiểm tra hay tuyên truyền đều chỉ mang tính hỗ trợ, khó tạo chuyển biến bền vững.
Có thể thấy, từ một sai lệch ban đầu trong hồ sơ, một vòng luẩn quẩn đã hình thành gồm: không xử lý được vi phạm, vi phạm tiếp diễn, hiện trạng càng khó kiểm soát và việc khắc phục ngày càng tốn kém, phức tạp hơn.
Nếu không sớm tháo gỡ “nút thắt” pháp lý này, những cánh rừng tự nhiên còn lại sẽ tiếp tục đứng trước nguy cơ bị xâm hại, trong khi các cơ quan quản lý vẫn loay hoay trong thế bị động, thiếu công cụ đủ mạnh để can thiệp hiệu quả.
Bài cuối: Gỡ 'nút thắt' trong quản lý, bảo vệ rừng