Dây chuyền sản xuất mũ giầy tại Công ty Giầy Hồng An. Ảnh tư liệu (minh họa): TTXVN
Để thực hiện mục tiêu này, các chuyên gia đề xuất đẩy nhanh chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu; đồng thời tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng nền công nghiệp hiện đại và khơi thông các nguồn lực cho phát triển nhanh, bền vững.
Động lực tăng trưởng là khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Sau 40 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; quy mô, tiềm lực, sức cạnh tranh của nền kinh tế tiếp tục được nâng lên; vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được củng cố. Tính đến cuối năm 2025, quy mô GDP của Việt Nam đạt trên 514 tỷ USD; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD; tổng thu nhập quốc dân bình quân đầu người đạt khoảng 4.970 USD, vượt ngưỡng phân loại nước có thu nhập trung bình cao theo tiêu chuẩn mới của Ngân hàng Thế giới.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, Việt Nam mới chỉ ở ngưỡng đầu của nhóm nước có thu nhập trung bình cao; khoảng cách để đạt mục tiêu đến năm 2030 với GDP bình quân đầu người khoảng 8.500 USD như Đại hội XIV của Đảng đã xác định vẫn còn rất lớn. Trong bối cảnh đó, nhiều chuyên gia cho rằng, cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, sức chống chịu và tính tự chủ của nền kinh tế.
Các dự án FDI tại Quảng Ngãi đã tạo việc làm và thu nhập cho nhiều động địa phương. Ảnh tư liệu: Hoàng Hiếu/TTXVN.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Phúc, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, nguyên Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, việc chuyển đổi mô hình phát triển dựa chủ yếu vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên lĩnh vực kinh tế là yêu cầu cấp bách, là nhiệm vụ trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời là cách thức để Việt Nam thực hiện mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Để hiện thực hóa mục tiêu đã đề ra, ông Vũ Văn Phúc đề xuất, cần nâng cao nhận thức xã hội, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước đối với quá trình chuyển đổi mô hình phát triển mới; khắc phục tư duy nhiệm kỳ, tầm nhìn ngắn hạn, cục bộ; gắn phát triển của từng địa phương với vùng, liên vùng và cả nước, qua đó tạo sự đồng thuận trong toàn hệ thống chính trị và xã hội. Bên cạnh đó, tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng; hoàn thiện cơ chế, chính sách và pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế; đổi mới cơ chế quản lý; mở rộng áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, mô hình kinh doanh và mô hình tăng trưởng mới; tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Các sản phẩm công nghệ mới được giới thiệu tại Đại hội công đoàn XIV. Ảnh: XC
Về nguồn nhân lực, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Phúc đề xuất hoàn thiện chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài; xây dựng cơ chế thu hút chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước; đồng thời đổi mới giáo dục, đào tạo theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu của mô hình phát triển mới, gắn với tăng cường hợp tác quốc tế về nghiên cứu, chuyển giao và làm chủ công nghệ.
Ông cũng đề nghị cơ cấu lại các ngành kinh tế gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; thúc đẩy ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp; nâng cao năng lực cạnh tranh của công nghiệp chế biến, chế tạo thông qua phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước; đồng thời ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ có hàm lượng tri thức và công nghệ cao. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng nâng cao quyền tự chủ trong nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; khuyến khích hình thành và phát triển các quỹ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội, nhất là khu vực tư nhân, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển…
“Điều quan trọng là cần xây dựng và phát triển văn hóa đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong toàn xã hội, coi đây là nguồn lực nội sinh quan trọng để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, góp phần tạo động lực phát triển bền vững”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Phúc nhấn mạnh.
Đột phá về thể chế và quản trị quốc gia hiện đại
Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thị Túy, Phó viện trưởng Viện Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, nền kinh tế Việt Nam đã đạt nhiều kết quả tích cực khi bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng và chỉ số phát triển con người được cải thiện. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn đối mặt nhiều thách thức như giá trị gia tăng nội địa trong sản xuất công nghiệp còn thấp, phụ thuộc lớn vào khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài, năng lực nghiên cứu và phát triển còn hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của các ngành công nghệ cao, trong khi quá trình chuyển đổi xanh và hoàn thiện thể chế vẫn còn nhiều điểm nghẽn.
Để hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030, giai đoạn 2026 - 2030 đòi hỏi những tư duy vượt giới hạn và hệ giải pháp mang tính đột phá toàn diện, trọng tâm trên ba phương diện. Đó là đột phá về: Thể chế và quản trị quốc gia hiện đại; lực lượng sản xuất bằng việc đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn; khơi thông nguồn lực và thực hiện triệt để tiết kiệm, chống lãng phí nhằm biến tài nguyên nội sinh thành động lực bứt phá.
Theo bà Phạm Thị Túy, đột phá về thể chế và quản trị quốc gia hiện đại phải tạo không gian cho các mô hình kinh tế mới, chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển; đồng thời hoàn thiện hành lang pháp lý và mở rộng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát để thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, cần hiện đại hóa quản trị quốc gia trên nền tảng chính phủ số, ưu tiên thu hút các dự án công nghệ cao gắn với chuyển giao công nghệ, tăng cường liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế và giá trị gia tăng trong chuỗi sản xuất.
Trong cấu trúc lực lượng sản xuất mới của kỷ nguyên số, công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và năng lượng sạch chính là những bệ đỡ mang tính quyết định để Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thị Túy, mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 không thuần túy là các chỉ số kinh tế định lượng, mà là khát vọng nâng cấp vị thế quốc gia của Việt Nam trong trật tự toàn cầu. Tiến trình chuyển đổi sâu rộng này đòi hỏi chúng ta phải giải quyết triệt để mối quan hệ biện chứng giữa phát triển lực lượng sản xuất mới với việc đổi mới thể chế quản trị và bồi đắp năng lực sáng tạo.
Cảng Gemalink là cảng có cơ sở hạ tầng và trang thiết bị hiện đại bậc nhất cả nước và vị trí khai thác có nhiều ưu thế nhất tại khu vực cụm cảng Cái Mép - Thị Vải. Ảnh minh họa: Hồng Đạt/TTXVN.
Dù hiện thực phát triển còn đối mặt với nhiều gam màu thách thức từ bẫy thu nhập trung bình, năng suất lao động và áp lực môi trường, song chặng đường chiến lược 2026-2030 chính là “thời điểm vàng” khi kề cận các cơ hội lớn từ làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng công nghệ cao. Bằng tư duy hành động quyết liệt - lấy đột phá thể chế làm mở đường, công nghiệp mũi nhọn làm hạt nhân, cùng chiến lược khơi thông nguồn lực, chống lãng phí và phát huy giá trị con người, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thị Túy tin tưởng, Việt Nam hoàn toàn có thể rút ngắn khoảng cách phát triển, hiện thực hóa thành công mục tiêu chiến lược vào năm 2030.