Mô hình trồng cỏ Nhật tại xã Nam Hồng, tỉnh Ninh Bình đang mở ra hướng phát triển kinh tế xanh bền vững góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân địa phương. Ảnh: Thùy Dung/TTXVN
Mặc dù ghi nhận tốc độ tăng trưởng tích cực, tín dụng xanh vẫn đang đối mặt với không ít rào cản khiến dòng vốn chưa thể phát huy hết tiềm năng.
Tín dụng xanh tăng tốc, dư nợ vượt 828.000 tỷ đồng
Đại diện Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN cho biết, cùng với việc điều hành chính sách tiền tệ nhằm ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng, thời gian qua, ngành Ngân hàng đã chủ động định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực xanh, phát triển bền vững; đồng thời từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn phục vụ quá trình chuyển đổi xanh.
Bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho rằng, tín dụng xanh đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng, hướng tới phát triển kinh tế bền vững. Ảnh: Hải Nguyễn
Những nỗ lực này đã mang lại kết quả tích cực. Đến nay, đã có 82 tổ chức tín dụng (TCTD) phát sinh dư nợ tín dụng xanh với tổng quy mô hơn 828.000 tỷ đồng, tăng gấp 4,6 lần so với năm 2017. Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 20%/năm trong giai đoạn 2017 -2025. Dòng vốn xanh hiện tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, bảo tồn đa dạng sinh học và năng lượng xanh.
Đáng chú ý, dư nợ được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đã vượt 5,7 triệu tỷ đồng, chiếm hơn 30% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Điều này cho thấy các tiêu chí phát triển bền vững đang ngày càng được lồng ghép sâu hơn trong hoạt động cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, so với nhu cầu vốn rất lớn cho quá trình chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng và phát triển kinh tế tuần hoàn trong những thập kỷ tới, quy mô tín dụng xanh hiện nay vẫn còn nhiều dư địa để mở rộng.
Đơn cử tại Agribank, đến cuối năm 2025, ngân hàng có gần 39.000 khách hàng được cấp tín dụng thuộc lĩnh vực xanh với tổng dư nợ gần 28.000 tỷ đồng. Dư nợ tín dụng xanh của Agribank hiện tập trung chủ yếu vào lĩnh vực năng lượng tái tạo và năng lượng sạch, chiếm 53%; lâm nghiệp bền vững chiếm 27%; nông nghiệp xanh chiếm 20%.
Tại Hội thảo “Nâng cao hiệu quả dòng vốn tín dụng xanh, động lực cho tăng trưởng kinh tế” do Báo Lao Động tổ chức mới đây, đại diện NHNN cho biết, một trong những vướng mắc lớn nhất hiện nay là hệ thống tiêu chí nhận diện dự án xanh, dự án tuần hoàn và khung tiêu chuẩn ESG vẫn chưa thực sự hoàn thiện. Điều này khiến cả TCTD và doanh nghiệp gặp khó khăn trong quá trình thẩm định, triển khai và tiếp cận nguồn vốn.
Bên cạnh đó, nhu cầu vốn cho chuyển đổi xanh của nền kinh tế đang ở mức rất lớn, trong khi khả năng cân đối nguồn lực của hệ thống ngân hàng còn nhiều áp lực. Việc tiếp cận các nguồn vốn quốc tế thường đi kèm chi phí cao, rủi ro tỷ giá và quy trình phức tạp. Trong khi đó, thị trường trái phiếu xanh và thị trường carbon trong nước vẫn chưa phát triển tương xứng với nhu cầu thực tế.
Một thách thức khác là tình trạng thiếu hụt dữ liệu phục vụ công tác thẩm định và quản trị rủi ro. Các TCTD vẫn đang gặp khó trong việc tiếp cận thông tin về quy hoạch các dự án xanh cũng như dữ liệu môi trường của doanh nghiệp, làm ảnh hưởng đến hiệu quả đánh giá và giám sát các khoản vay xanh.
“Điểm nghẽn hiện nay không chỉ nằm ở nguồn vốn mà còn ở việc thiếu một hệ sinh thái tài chính xanh hoàn chỉnh, từ cơ chế nhận diện dự án, cơ sở dữ liệu môi trường đến các công cụ huy động vốn trung và dài hạn cho quá trình chuyển đổi xanh”, bà Hà Thu Giang cho biết.
Theo bà Hà Thu Giang, trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục chỉ đạo các TCTD ưu tiên nguồn vốn cho các dự án thuộc danh mục phân loại xanh, đồng thời phát triển các sản phẩm tín dụng chuyên biệt nhằm đồng hành cùng doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.
Đáng chú ý, Cơ quan quản lý đang hoàn thiện cơ chế hỗ trợ lãi suất từ ngân sách Nhà nước đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân thực hiện các dự án xanh, kinh tế tuần hoàn hoặc áp dụng tiêu chuẩn ESG. Đây được kỳ vọng sẽ trở thành cú hích quan trọng, giúp doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào các mô hình sản xuất thân thiện với môi trường.
Để tín dụng xanh thực sự trở thành động lực cho tăng trưởng kinh tế, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương, tổ chức tín dụng và cộng đồng doanh nghiệp trong việc hoàn thiện thể chế, phát triển cơ sở dữ liệu môi trường, mở rộng các kênh huy động vốn xanh và nâng cao năng lực quản trị theo các chuẩn mực phát triển bền vững.
"Tấm hộ chiếu" đến với thị trường thế giới
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gắn chặt với các tiêu chí xanh và phát triển bền vững, khả năng khơi thông, dẫn dắt và sử dụng hiệu quả dòng vốn xanh sẽ không chỉ quyết định tốc độ chuyển đổi của doanh nghiệp mà còn tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh, sức chống chịu và dư địa tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong dài hạn.
Ông Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch Thường trực Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam cho rằng, nếu không có nguồn vốn được đảm bảo, trong đó có hợp tác xã (HTX), doanh nghiệp nhỏ và vừa, sẽ tiếp cận rất khó khăn.
Còn TS Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Thành phố Hà Nội đề xuất thời gian tới cần xác định rõ ngành nào có tiềm năng phát triển bền vững, ngành nào phát triển nhưng không bền vững và ngành nào có thể dần rời khỏi thị trường.
“Một số lĩnh vực thiết yếu cần được ưu tiên về vốn bao gồm dệt may, da giày, sản xuất hàng gia dụng, công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng, công nghiệp bán dẫn và công nghệ thông tin. Bên cạnh đó, các lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, thực phẩm và chăm sóc sức khỏe cũng cần được chú trọng”, ông Mạc Quốc Anh cho biết. Điều quan trọng nhất vẫn là ưu tiên vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là nền tảng của nền kinh tế. Hoạt động sản xuất có tính bền vững cao vì doanh nghiệp phải đầu tư vào máy móc, trang thiết bị, nhà xưởng, lao động và thực hiện trách nhiệm xã hội. Đây đều là những yếu tố tạo ra giá trị gia tăng lâu dài cho nền kinh tế.
Khi dòng vốn được khơi thông, hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ, vừa có thêm điều kiện mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đây cũng là “tấm hộ chiếu” giúp doanh nghiệp tiếp cận nhà đầu tư nước ngoài, thu hút nguồn lực, kinh nghiệm quản trị và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Ông Nguyễn Quang Ngọc, Phó Trưởng Ban Chính sách tín dụng Agribank:
Có thể cho vay tới 5 tỷ đồng không cần tài sản bảo đảm
Trên cơ sở các quy định mới của Chính phủ về tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, Agribank đã phát triển các sản phẩm tín dụng theo hướng giảm yêu cầu về tài sản bảo đảm đối với khách hàng. Theo đó, cá nhân và hộ gia đình có thể vay tối đa 300 triệu đồng không cần tài sản bảo đảm. Đối với hộ kinh doanh, hạn mức vay không có tài sản bảo đảm lên tới 500 triệu đồng.
Đáng chú ý, đối với hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã, Agribank có thể cho vay tối đa 5 tỷ đồng không cần tài sản bảo đảm. Các doanh nghiệp tham gia chuỗi liên kết sản xuất nông nghiệp với tư cách thành viên được vay tối đa 70% giá trị dự án hoặc phương án sản xuất kinh doanh mà không cần tài sản bảo đảm. Đối với doanh nghiệp đầu mối trong chuỗi liên kết, tỉ lệ này lên tới 80%. Riêng các dự án nông nghiệp hữu cơ, khách hàng có thể được vay tối đa 70% giá trị dự án mà không cần tài sản bảo đảm.