Nông dân huyện Phước Long (Bạc Liêu) sử dụng máy gặt đặp liên hợp thu hoạch lúa. Ảnh: Tuấn Kiệt/TTXVN
Giá lúa gạo trong nước tuần qua tăng khá tốt. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa tươi tại ruộng loại lúa thơm cao nhất là 5.950 đồng/kg, trung bình là 5.686 đồng/kg, tăng 96 đồng/kg; lúa thường cũng tăng trung bình 82 đồng/kg, giá cao nhất là 5.550 đồng/kg, trung bình là 5.461 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu lứt loại 1 cao nhất là 9.250 đồng/kg, trung bình là 8.650 đồng/kg, tăng 138 đồng/kg. Gạo lứt loại 2 tăng 161 đồng/kg, có giá trung bình là 8.300 đồng/kg, cao nhất là 8.850 đồng/kg.
Gạo xát trắng loại 1 tăng 410 đồng/kg, cao nhất là 10.450 đồng/kg, trung bình là 9.105 đồng/kg; xát trắng loại 2 tăng mạnh nhất với 510/kg, trung bình là 8.530 đồng/kg.
Đối với phụ phẩm, giá cám tăng 32 đồng/kg, trung bình 7.114 đồng/kg; trong khi tấm tăng 14 đồng/kg, trung bình là 7.639 đồng/kg.
Tại An Giang, nhiều loại lúa tiếp tục có sự nhích lên nhẹ từ 100 - 300 đồng/kg. Điển hình lúa chất lượng cao như OM 18 và Đài Thơm 8 lên mức từ 5.800 – 6.100 đồng/kg; OM 5451 dao động 5.500 – 5.600 đồng/kg, IR 50404 lên mức từ 5.400 – 5.600 đồng/kg; riêng OM 34 vẫn giữ ổn định khoảng 5.100 – 5.200 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam hiện duy trì ở nhiều mức khác nhau. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo thơm 5% tấm đang được chào bán trong khoảng 440-445 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động từ 333-337 USD/tấn; còn gạo Jasmine dao động ở mức từ 452-456 USD/tấn. Giá gạo 5% tấm xuất khẩu dao động ở mức từ 375 - 380 USD/tấn trong phiên giao dịch ngày 9/4, tăng nhẹ so với mức 375 USD/tấn của tuần trước. Một thương nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh cho biết hoạt động xuất khẩu đã nhộn nhịp hơn trong những tuần gần đây.
Khách hàng đang đẩy mạnh tích trữ do lo ngại căng thẳng chiến sự ở Trung Đông sẽ làm tăng giá cước vận tải và phân bón.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định, giá lúa tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong đầu quý II dự báo giảm nhẹ do bước vào cao điểm thu hoạch vụ Đông Xuân, nguồn cung dồi dào. Tuy nhiên, thị trường vẫn có lực đỡ nhất định khi nhu cầu nhập khẩu từ các thị trường chủ chốt gia tăng nhằm tích trữ lương thực trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông.
Xung đột Trung Đông hiện chưa tác động trực tiếp đến cung – cầu gạo toàn cầu, nhưng đã làm gia tăng chi phí vận tải, nhiên liệu và bảo hiểm hàng hải, qua đó đẩy chi phí xuất khẩu lên cao và khiến giao dịch chậm lại. Trong bối cảnh nguồn cung trong nước vẫn dồi dào, nhu cầu chưa phục hồi rõ rệt, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục dao động trong biên độ hẹp trong ngắn hạn. Tuy vậy, mặt bằng giá có thể chịu áp lực tăng nếu chi phí logistics tiếp tục leo thang.
Không chỉ Việt Nam, giá gạo xuất khẩu tại các quốc gia sản xuất và xuất khẩu gạo hàng đầu châu Á khác cũng đồng loạt tăng trong tuần qua. Đà tăng này xuất phát từ nhu cầu thị trường cải thiện, sự tăng giá của đồng nội tệ tại một số quốc gia, cùng với chi phí vận tải và vật tư leo thang do tác động từ cuộc xung đột ở Trung Đông.
Tại Ấn Độ, các thương nhân chào bán gạo đồ loại 5% tấm ở mức từ 344 - 350 USD/tấn trong tuần này, tăng nhẹ so với mức từ 341 - 348 USD/tấn của tuần trước. Trong khi đó, gạo trắng 5% tấm giao dịch ở mức từ 338 - 344 USD/tấn.
Một doanh nghiệp xuất khẩu tại Kolkata cho biết đồng rupee tăng giá mạnh đã buộc họ phải điều chỉnh giá bán, trong bối cảnh nhu cầu đang dần phục hồi.
Tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm tăng mạnh lên mức từ 410 - 440 USD/tấn, so với mức từ 370 - 375 USD/tấn trước đó. Giới thương nhân tại Bangkok lý giải, xung đột ở Trung Đông đã đẩy chi phí đầu vào như cước vận chuyển, giá nhiên liệu và giá gạo nội địa lên cao. Đồng baht mạnh lên cũng góp phần nâng giá xuất khẩu. Dù vậy, sức mua nhìn chung vẫn yếu và các lô hàng chủ yếu chỉ xuất cho khách hàng quen.
Về nguồn cung, sản lượng lúa tại Thái Lan đang sụt giảm do mùa khô. Lợi nhuận thấp cũng khiến một bộ phận nông dân nước này tạm ngừng canh tác. Các nhà xuất khẩu đang chịu áp lực lớn do những nhà máy xay xát muốn găm hàng chờ giá cao hơn mới bán.
Tại Bangladesh, giá gạo trong nước vẫn tiếp tục neo ở mức cao. Tình trạng thiếu hụt nhiên liệu đang làm gián đoạn đời sống tại các vùng nông thôn, khiến hàng chục nghìn nông dân chật vật tìm nguồn dầu diesel để bơm nước tưới tiêu trong giai đoạn phát triển mang tính quyết định của cây lúa.
Về thị trường nông sản Mỹ, trong phiên ngày 10/4, giá đậu tương trên Sàn giao dịch hàng hóa Chicago, Mỹ (CBOT) đã vọt lên mức cao nhất trong vòng hai tuần. Đà tăng này kéo theo giá hợp đồng tương lai bã đậu tương tăng hơn 4%, chủ yếu nhờ nhu cầu mạnh trên thị trường tiền mặt và một thương vụ xuất khẩu hiếm hoi sang Italy. Trái lại, giá ngô và lúa mỳ đồng loạt sụt giảm do nguồn cung toàn cầu đang ở mức dồi dào.
Cụ thể, giá đậu tương giao tháng 5/2026 trên sàn CBOT tăng 13 xu Mỹ (1,1%), đạt 11,78-1/4 USD/bushel (1 bushel lúa mì/đậu tương = 27,2 kg; 1 bushel ngô = 25,4 kg).
Trước đó trong cùng phiên, giá đậu tương giao tháng 5/2026 có lúc chạm mốc 11,79-1/4 USD/bushel, mức giá cao nhất kể từ ngày 26/3. Cùng đà tăng, giá bã đậu tương giao tháng 5/2026 tăng lên 333,80 USD/tấn, tương đương mức tăng 16,20 USD (5,1%).
Thị trường khô đậu tương và đậu tương tăng giá mạnh ngay sau khi Bộ Nông nghiệp Mỹ xác nhận các doanh nghiệp tư nhân nước này vừa xuất khẩu 100.000 tấn bã đậu tương, nguyên liệu dùng làm thức ăn chăn nuôi, cho thị trường Italy.
Ông Jack Scoville, Phó chủ tịch Tập đoàn Price Futures (trụ sở tại Chicago), nhận định giá đậu tương tăng chủ yếu đến từ việc Italy thu mua bã đậu tương. Quốc gia này vốn không phải là khách hàng thường xuyên của Mỹ đối với mặt hàng này, do đó thương vụ đã thực sự kích hoạt thị trường.
Báo cáo ngày 9/4 của Bộ Nông nghiệp Mỹ cũng cho thấy doanh số xuất khẩu bã đậu tương của Mỹ đang rất tốt. Tính đến thời điểm hiện tại của niên vụ 2025/2026, doanh số mặt hàng này đã tăng 16% so với cùng kỳ năm ngoái.
Ở chiều ngược lại, giá ngô và lúa mỳ chịu áp lực giảm sau khi báo cáo cung cầu hàng tháng của Bộ Nông nghiệp Mỹ tái khẳng định nguồn cung hai loại ngũ cốc này trên toàn cầu vẫn rất dồi dào. Cụ thể, giá ngô giao tháng 5/2026 giảm 2 xu Mỹ xuống mức 4,42 USD/bushel. Giá lúa mỳ giao cùng kỳ hạn cũng giảm 2,5 xu Mỹ xuống 5,72 USD/bushel.
Đóng cửa tuần giao dịch, lúa mỳ ghi nhận mức giảm lên tới 4,5%, đánh dấu tuần giảm giá nhiều nhất kể từ cuối tháng 6/2026. Tính chung cả tuần, giá ngô giảm 2,4%, trong khi đậu tương giữ mức tăng tổng cộng 1,1%. Giá lúa mỳ giảm trong ba phiên liên tiếp gần đây phản ánh áp lực từ nguồn cung toàn cầu cũng như sự cạnh tranh gay gắt trong hoạt động xuất khẩu.
Về tình hình mùa vụ, những cơn mưa gần đây tại khu vực Trung Tây nước Mỹ đang làm chậm tiến độ gieo hạt ngô. Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ, tính đến ngày 5/4, nông dân Mỹ mới chỉ gieo trồng được 3% diện tích ngô. Dù một số nông dân phàn nàn vì tiến độ bị đình trệ so với mục tiêu gieo hạt vào giữa tháng 4/2026, song chuyên gia Scoville cho rằng lượng mưa dồi dào nhìn chung sẽ mang lại lợi ích lớn cho cây trồng về lâu dài.
Về thị trường cà phê, cả thế giới và Việt Nam đồng loạt ghi nhận đà phục hồi. Trên thị trường quốc tế, giá cà phê Arabica và Robusta cũng bật tăng nhờ sự hỗ trợ từ tỷ giá đồng real của Brazil và tình hình nguồn cung.
Tại sàn New York, giá cà phê Arabica giao tháng 5/2026 tăng 6,4 xu (2,18%), chốt phiên ở mức 300,10 xu/lb, mức cao nhất trong một tuần qua (1lb=0,45kg). Tại sàn London, giá cà phê Robusta cùng kỳ hạn tăng 14 USD (0,42%) lên 3.324 USD/tấn, phục hồi từ mức đáy 8,5 tháng. Nguyên nhân chính thúc đẩy giá cà phê quốc tế là sự lên giá của đồng real Brazil so với USD, đạt mức cao nhất trong 2 năm qua. Tỷ giá này khiến nông dân Brazil hạn chế bán hàng ra để xuất khẩu, từ đó thắt chặt nguồn cung.
Bên cạnh đó, tình trạng khan hiếm nguồn cung cà phê Robusta cũng đóng vai trò hỗ trợ giá. Tồn kho Robusta trên sàn ICE hiện giảm xuống mức thấp nhất trong hơn một năm, chỉ còn 3.977 bao. Ngoài ra, việc vận tải qua eo biển Hormuz bị gián đoạn làm tăng chi phí logistics, góp phần đẩy chi phí nhập khẩu và rang xay lên cao.
Trong khi đó, tại Việt Nam, giá thu mua cà phê tăng nhẹ 200-300 đồng/kg, đạt mức trung bình 85.700 đồng/kg.
Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) cho biết, xuất khẩu cà phê toàn cầu trong niên vụ hiện tại, tháng 10/2025 - tháng 9/2026, đạt 138,658 triệu bao, giảm nhẹ 0,3% so với cùng kỳ.