Tuy nhiên, tại Phú Thọ, nhiều làng nghề đã chủ động đổi mới phương thức sản xuất, xây dựng thương hiệu và gắn phát triển làng nghề với du lịch, qua đó góp phần gìn giữ và phát huy giá trị nghề truyền thống.
Hoạt động sản xuất tại làng rèn Lý Nhân (Phú Thọ).
Chuyển mình từ những nghề truyền thống
Nghề rèn Lý Nhân, xã Vĩnh Phú, tỉnh Phú Thọ được công nhận là làng nghề từ năm 2006. Hiện nay, làng rèn Bàn Mạch có khoảng 700 hộ làm nghề. Những sản phẩm như dao, kéo, cuốc, liềm… của làng rèn Lý Nhân từ lâu được người tiêu dùng tin dùng bởi độ bền và độ sắc bén.
Trước đây, toàn bộ các công đoạn sản xuất đều được thực hiện bằng phương pháp thủ công. Người thợ phải nung thép trong lò than, sau đó dùng búa tay đập rèn để tạo hình sản phẩm. Công việc nặng nhọc, đòi hỏi nhiều sức lực và thời gian nên năng suất lao động còn hạn chế.
Những năm gần đây, để thích ứng với nhu cầu thị trường ngày càng lớn, nhiều hộ gia đình trong làng đã mạnh dạn đầu tư máy móc như búa máy, máy cắt kim loại, máy mài. Việc đưa thiết bị cơ khí vào sản xuất giúp giảm sức lao động cho người thợ, đồng thời tăng năng suất và độ chính xác của sản phẩm. Tuy vậy, những công đoạn quan trọng quyết định chất lượng vẫn được thực hiện thủ công bởi các nghệ nhân có tay nghề cao.
Tiêu biểu là Hợp tác xã Rèn Thanh niên Lý Nhân, một trong những đơn vị tiên phong đưa công nghệ vào sản xuất. Thay vì sử dụng lò than truyền thống, hợp tác xã đã đầu tư hệ thống lò nung cao tần và máy móc hiện đại, góp phần tối ưu chi phí, nâng cao năng suất và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Bên cạnh đó, để mở rộng thị trường tiêu thụ, hợp tác xã đã nhanh chóng triển khai các kênh bán hàng trực tuyến. Các sản phẩm thường xuyên được giới thiệu qua livestream, video quảng bá trên các nền tảng như Facebook, Shopee hay TikTok Shop.
Ông Phùng Văn Đô, Giám đốc Hợp tác xã Rèn Thanh niên Lý Nhân, xã Vĩnh Phú cho biết: Việc đầu tư máy móc, trang thiết bị hiện đại giúp nâng cao chất lượng và đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường. Thời gian qua, hợp tác xã đã cho ra mắt bộ dao nhà bếp gồm 8 sản phẩm với mẫu mã đẹp, chất lượng cao và tính ứng dụng lớn. Bộ sản phẩm này liên tiếp được công nhận là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh năm 2021, cấp khu vực phía Bắc năm 2022 và cấp quốc gia năm 2023.
Trung bình mỗi tháng, hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ từ 4.000 – 5.000 sản phẩm dao, cuốc, xẻng…, tạo việc làm cho 10 lao động với thu nhập từ 7 – 9 triệu đồng/người/tháng.
Phụ nữ Sai Nga ở xã Cẩm Khê (Phú Thọ) làm nón truyền thống.
Cùng với nghề rèn, nghề làm nón lá Sai Nga, xã Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ cũng đang có những bước chuyển mình tích cực. Những chiếc nón được làm từ lá cọ, trải qua nhiều công đoạn tỉ mỉ như chọn lá, làm vành, khâu nón, sấy nón… để tạo nên sản phẩm bền đẹp, trắng mịn. Chính sự khéo léo của người thợ đã tạo nên những chiếc nón mang đậm bản sắc văn hóa của vùng quê Phú Thọ.
Để thích ứng với nhu cầu thị trường, người dân làng Sai Nga không chỉ duy trì phương pháp thủ công truyền thống mà còn chú trọng cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm. Nón lá không chỉ phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày mà còn trở thành sản phẩm lưu niệm cho du khách khi đến với vùng đất Tổ.
Làng nón Sai Nga được công nhận là làng nghề từ năm 2004, đạt chứng nhận OCOP 3 sao năm 2021 và được nâng hạng lên 4 sao vào năm 2024.
Bà Phạm Thị Tuyền, Trưởng làng nghề làm nón Sai Nga cho biết: Hiện nay, khoảng 500 hộ dân vẫn duy trì nghề làm nón, với sản lượng khoảng 550.000 chiếc mỗi năm, mang lại doanh thu hàng chục tỷ đồng. Nghề làm nón không chỉ giúp người dân có thêm thu nhập mà còn góp phần gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống của quê hương. Người dân trong làng luôn chú trọng giữ vững chất lượng sản phẩm, đồng thời cải tiến mẫu mã để phù hợp với thị hiếu của thị trường.
Đổi mới để phát triển
Theo Chi cục Phát triển nông thôn (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Phú Thọ), toàn tỉnh Phú Thọ có hơn 110 làng nghề và hàng trăm làng có nghề đang hoạt động, thu hút hơn 30.000 hộ cùng hàng chục hợp tác xã, doanh nghiệp, tạo việc làm cho khoảng 43.000 lao động. Thu nhập bình quân dao động từ 6 đến 10 triệu đồng/người/tháng tại các làng nghề.
Tuy nhiên, nhiều làng nghề vẫn đối diện với không ít khó khăn như thiếu vốn đầu tư, thiết bị lạc hậu, sản xuất manh mún, phụ thuộc vào thương lái và thiếu kênh tiêu thụ ổn định. Vì vậy, để duy trì và phát triển, nhiều làng nghề đã mạnh dạn ứng dụng công nghệ, chuẩn hóa quy trình sản xuất, đồng thời mở rộng thị trường thông qua du lịch và thương mại điện tử.
Làng gốm Hương Canh là một ví dụ điển hình. Nơi đây nổi tiếng với các sản phẩm chum, vại, tiểu sành có độ bền cao, màu men đặc trưng và khả năng giữ nước tốt. Trước sự cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp, nhiều nghệ nhân đã chủ động đổi mới để thích ứng với thị trường. Bên cạnh các sản phẩm truyền thống, nhiều cơ sở đã sáng tạo thêm các dòng gốm mỹ nghệ, gốm trang trí và đồ nội thất bằng gốm phục vụ nhu cầu trang trí và du lịch.
Anh Nguyễn Hồng Quang, chủ một cơ sở gốm tại Hương Canh cho biết, ngoài việc áp dụng khoa học kỹ thuật trong quá trình nung để tạo màu sắc như mong muốn, anh còn sáng tạo thêm các họa tiết như hoa sen, hoa mai, lá tre, lá trúc trên sản phẩm. Hiện các sản phẩm gốm mỹ thuật của cơ sở đã có mặt tại nhiều thị trường nước ngoài như Hàn Quốc, Đức, Canada...
Người làm nghề ở làng gốm Hương Canh (Phú Thọ).
Bên cạnh sản xuất, cơ sở của anh Quang còn tổ chức các lớp học làm gốm dành cho học sinh và du khách, góp phần quảng bá và trải nghiệm nghề gốm truyền thống.
Thích ứng với cơ chế thị trường, nhiều làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đang ngày càng phát triển cả về quy mô và chất lượng. Nhiều làng nghề đã khẳng định được vị thế trên thị trường như nón lá Sai Nga, mì Hùng Lô, dệt thổ cẩm Chiềng Châu, gốm Hương Canh, mộc Thanh Lãng…
Tỉnh Phú Thọ đặt mục tiêu đến năm 2030, nhóm ngành nghề nông thôn đạt tốc độ tăng trưởng từ 6 – 7% mỗi năm; thu nhập của người lao động tăng hơn 2,5 lần so với năm 2020; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 80%, trong đó ít nhất 35% có chứng chỉ nghề.
Để đạt mục tiêu này, tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề như: hỗ trợ ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất; xây dựng các kênh thông tin điện tử để quảng bá và bán sản phẩm trực tuyến; hỗ trợ xây dựng thương hiệu, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu; gắn phát triển làng nghề với du lịch.
Đặc biệt, tỉnh khuyến khích triển khai mô hình "mỗi xã một sản phẩm" (OCOP) nhằm tạo dấu ấn riêng cho từng địa phương. Đồng thời, tỉnh cũng tăng cường đầu tư hạ tầng các cụm công nghiệp – làng nghề, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và cơ sở sản xuất mở rộng hoạt động, giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường và từng bước hình thành hệ thống phân phối sản phẩm trong và ngoài nước.