Hợp tác xã Hải Phong nuôi cá lồng trên vịnh Lan Hạ.
Giấc mơ vươn biển
Hợp tác xã Hải Phong là một trong những đơn vị nuôi biển công nghiệp quy mô lớn tại đặc khu Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Hợp tác xã hiện có hơn 200 lồng nuôi cá, với diện tích mặt nước gần 30.000 m², nuôi các loài cá giá trị như cá song, cá dìa.
Ông Vũ Đỗ Hoàng Chí, đại diện Hợp tác xã cho biết, đơn vị áp dụng kỹ thuật nuôi cá bằng lồng bè, tận dụng nguồn nước sạch của vịnh Lan Hạ để nuôi thả. Hệ thống lồng bè được thiết kế bằng các vật liệu như nhựa HDPE, composite, bảo đảm độ bền và thân thiện với môi trường. Cùng với đó, Hợp tác xã sử dụng nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng, an toàn và kiểm soát mật độ nuôi hợp lý. Nhờ các giải pháp này, thủy sản sinh trưởng tốt, cho chất lượng thịt thương phẩm cao.
Từ một hộ dân làm nghề ngư phủ, cách đây 20 năm, ông Nguyễn Văn Luyện bắt đầu đầu tư và dần mở rộng nuôi cá vược và cá giò theo phương thức lồng bè. Hiện ông có 17 lồng nuôi tại vùng nước vịnh Lan Hạ, đặc khu Cát Hải.
Theo ông Luyện, những năm gần đây, khu vực vịnh có nhiều hộ nuôi hơn, mật độ lồng bè tăng nhanh, trong khi chất lượng nước có dấu hiệu suy giảm do ô nhiễm, khiến việc nuôi gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, cơn bão số 3 năm 2024 (Yagi) đã gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng cho các cơ sở nuôi lồng bè nói chung và gia đình ông nói riêng. Tuy vậy, ông cho rằng nuôi biển vẫn là nghề có nhiều tiềm năng. Nếu được Nhà nước hỗ trợ, ông sẵn sàng đầu tư mở rộng và chuyển ra nuôi ở vùng biển xa hơn để nâng cao hiệu quả.
Theo ông Luyện, nuôi cá ngoài biển thường mang lại hiệu quả cao hơn. Ông dẫn chứng, cùng một loại cá, nếu nuôi trong vịnh kín phải mất hai năm mới đạt trọng lượng khoảng 2 kg, trong khi nuôi ngoài biển có thể đạt 3 kg trong cùng thời gian, với lượng thức ăn không đổi. Vì vậy, việc phát triển nuôi biển xa bờ không chỉ giúp giảm áp lực môi trường mà còn mở ra hướng đi bền vững hơn cho ngành nuôi trồng thủy sản.
Hợp tác xã Hải Phong nuôi cá lồng trên vịnh Lan Hạ.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Khắc Bát, Phó Giám đốc Viện Khoa học thủy sản Việt Nam, Hải Phòng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi biển theo hướng công nghiệp và bền vững. Thành phố hiện có diện tích nuôi trồng thủy sản hơn 12.000 ha; trong đó, diện tích nuôi cá biển đạt trên 7.500 ha, chiếm 62,4%. Các vùng biển như Cát Bà có độ mặn ổn định từ 31–32‰ vào mùa khô và 26–27‰ vào mùa mưa, rất phù hợp cho các loài cá biển giá trị cao như cá song, cá mú, cá chim trắng.
Bên cạnh đó, nguồn nước biển sạch, ít ô nhiễm, nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,5°C, độ ẩm khoảng 80%, tạo môi trường thuận lợi cho nhiều loài thủy sản sinh trưởng. Ngoài lợi thế tự nhiên, Hải Phòng còn có nguồn giống tự nhiên phong phú, đội ngũ nghiên cứu khoa học mạnh và thị trường tiêu thụ lớn, tạo nền tảng quan trọng để phát triển nuôi biển công nghệ cao trong thời gian tới.
Theo Chi cục Thủy sản, Chăn nuôi và Thú y (Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng), hiện khu vực này có 133 cơ sở nuôi trồng thủy sản, trong đó 118 cơ sở nuôi cá lồng bè và 15 cơ sở nuôi nhuyễn thể giàn bè, tập trung tại các khu vực Hang Vẹm - Vụng O, Thoi Quýt - Gia Luận và Ghẹ Gầm - Gia Luận. Thành phố đã giao khu vực biển cho 97 cơ sở và từng bước bố trí lại vị trí nuôi theo quy hoạch; sản lượng nuôi lồng bè năm 2025 ước đạt trên 700 tấn.
Bên cạnh đó, hoạt động nuôi nhuyễn thể bãi triều tại huyện Tiên Lãng cũng được sắp xếp lại với tổng diện tích khoảng 1.900 ha. Việc quy hoạch, cấp phép và giao khu vực biển cho các hộ nuôi không chỉ góp phần ổn định sản xuất mà còn bảo đảm an ninh trật tự vùng ven biển, tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý tài nguyên biển và thu hút đầu tư vào lĩnh vực nuôi trồng thủy sản.
Để nuôi biển trở thành mũi nhọn
Hợp tác xã Hải Phong nuôi cá lồng trên vịnh Lan Hạ.
Với những lợi thế sẵn có, Hải Phòng xác định phát triển nuôi trồng thủy sản biển, đặc biệt là nuôi biển công nghệ cao, là một trong những mũi nhọn của kinh tế biển. Tuy nhiên, theo đánh giá của Tiến sĩ Nguyễn Khắc Bát, nghề nuôi biển tại Hải Phòng vẫn còn không ít hạn chế cần khắc phục. Hiện nay, phần lớn hoạt động nuôi vẫn mang tính nhỏ lẻ, phân tán; công nghệ nuôi chưa đồng bộ, chủ yếu sử dụng lồng bè truyền thống, khả năng chống chịu trước sóng gió và thiên tai còn hạn chế. Nguồn con giống chất lượng cao chưa chủ động hoàn toàn, vẫn phụ thuộc nhiều vào khai thác tự nhiên. Ngoài ra, hạ tầng vùng nuôi và hệ thống dịch vụ hậu cần còn thiếu, việc quản lý môi trường cũng như liên kết tiêu thụ sản phẩm chưa chặt chẽ, ảnh hưởng đến hiệu quả và tính bền vững của nghề nuôi biển.
Theo Chi cục Thủy sản, Chăn nuôi và Thú y, thời gian qua thành phố Hải Phòng đã tăng cường quản lý hoạt động nuôi trồng thủy sản thông qua hệ thống nghị quyết, kế hoạch và quyết định cụ thể nhằm phát triển ngành theo hướng bền vững, phù hợp quy hoạch không gian biển.
Cụ thể, thực hiện Quyết định 1664/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định 1195/QĐ-BNN-TCTS, UBND thành phố đã ban hành Kế hoạch 11/KH-UBND về phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Thành phố cũng ban hành nhiều quyết định quan trọng như Quyết định 4181/QĐ-UBND phê duyệt vị trí, ranh giới và diện tích khu vực nuôi nhuyễn thể tại huyện Tiên Lãng; Quyết định 3876/QĐ-UBND phê duyệt Đề án nuôi trồng thủy sản lồng bè trên các vịnh thuộc quần đảo Cát Bà; Quyết định 775/QĐ-UBND về điều chỉnh, sắp xếp lại vị trí các cơ sở nuôi.
Đồng thời, HĐND thành phố ban hành Nghị quyết 05/2021/NQ-HĐND và Nghị quyết 22/2022/NQ-HĐND về hỗ trợ tháo dỡ các cơ sở nuôi thủy sản không phù hợp quy hoạch tại các vịnh Cát Bà. Hệ thống văn bản này đang tạo khung pháp lý quan trọng để Hải Phòng từng bước sắp xếp lại hoạt động nuôi biển, kiểm soát môi trường, đồng thời định hướng phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng công nghiệp, hiện đại trong thời gian tới.
Vừa qua, HĐND thành phố Hải Phòng cũng đã ban hành Nghị quyết 51/2025/NQ-HĐND nhằm hỗ trợ phát triển nuôi trồng thủy sản thâm canh, ứng dụng công nghệ cao, thúc đẩy chuyển đổi từ phương thức nuôi truyền thống sang mô hình sản xuất hiện đại, hiệu quả và bền vững.
Hợp tác xã Hải Phong nuôi cá lồng trên vịnh Lan Hạ.
Theo nghị quyết, các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo cơ sở nuôi thủy sản như ao, bể, lồng bè; hệ thống cấp, thoát nước; hệ thống xử lý môi trường; nhà bạt che phủ, cũng như mua sắm máy móc, thiết bị phục vụ nuôi trồng công nghệ cao sẽ được thành phố hỗ trợ 30% chi phí đầu tư thực tế, tối đa 300 triệu đồng/ha nuôi trồng thủy sản hoặc 300 triệu đồng cho mỗi cơ sở nuôi lồng bè, cơ sở sản xuất và ương dưỡng giống.
Bên cạnh đó, người nuôi còn được hỗ trợ 30% chi phí mua con giống, thức ăn công nghiệp, chế phẩm sinh học và các vật tư thiết yếu phục vụ sản xuất, tối đa 70 triệu đồng/ha hoặc 70 triệu đồng cho mỗi cơ sở nuôi lồng bè. Để được hưởng chính sách, các mô hình phải phù hợp với quy hoạch nuôi trồng thủy sản của địa phương, có quy mô tối thiểu theo quy định và được cơ quan có thẩm quyền xác nhận phương án sản xuất.
Theo Chi cục Thủy sản, Chăn nuôi và Thú y thành phố Hải Phòng, bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý, thành phố cũng xác định rõ định hướng phát triển nuôi biển theo hướng hiện đại và bền vững. Theo đó, thành phố tập trung phát triển nuôi trồng hải sản trên biển phù hợp quy hoạch, gắn kết với phát triển du lịch biển đảo; đồng thời từng bước chuyển dịch từ nuôi trồng thủy sản nội địa, ven bờ sang nuôi tại các vùng biển mở, vùng biển xa bờ theo quy mô công nghiệp, ứng dụng công nghệ hiện đại.
Mục tiêu đến năm 2045, Hải Phòng hình thành ngành công nghiệp nuôi biển đạt trình độ tiên tiến với phương thức quản lý hiện đại, trong đó nuôi biển trở thành một bộ phận quan trọng của ngành thủy sản và đóng góp trên 60% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản của thành phố.
Thành phố cũng chú trọng đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ trong sản xuất giống thủy sản chất lượng cao; khuyến khích sử dụng vật liệu, trang thiết bị thân thiện với môi trường như lồng bè HDPE, thức ăn công nghiệp cho cá biển, hệ thống nhà vệ sinh và xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn, qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ hệ sinh thái biển.