Siêu lá chắn hạt nhân trị giá 60 tỉ USD bị xóa sổ sau 24 giờ - Kỳ cuối

Dự án phòng thủ tên lửa Safeguard từng được kỳ vọng là “lá chắn” tối tân bảo vệ kho vũ khí hạt nhân của Mỹ đã kết thúc đầy nghịch lý khi bị đóng cửa chỉ sau một ngày vận hành.

HIỆP ƯỚC SALT VÀ CÁI KẾT CHỈ SAU MỘT NGÀY

Chú thích ảnh
Khu phức hợp phòng thủ Stanley R. Mickelsen Safeguard Complex tại bang North Dakota được thiết kế để bảo vệ các bãi phóng tên lửa Minuteman tại Căn cứ Không quân Grand Forks khỏi nguy cơ tấn công tên lửa. Ảnh: coldwartourist

Cũng giống như Nike-Zeus, các thành phần của Nike-X đã được thử nghiệm tại White Sands và Kwajalein, nơi chúng thực hiện các cuộc đánh chặn thử đối với tên lửa Polaris tầm trung được phóng từ tàu Hải quân và tên lửa đạn đạo liên lục địa Minuteman phóng từ căn cứ Vandenberg.

Trong giai đoạn từ năm 1963 đến 1975, đã có 150 lần đánh chặn thử nghiệm được tiến hành tại Kwajalein với tỷ lệ thành công đạt khoảng 90%, trong đó 21 lần cuối cùng đều thành công hoàn toàn. Vì hệ thống được kỳ vọng có thể sống sót sau một cuộc tấn công hạt nhân, tất cả các thành phần chính - đặc biệt là các ăng-ten radar đặt trên mặt đất - đều phải được gia cố để chịu được tác động của sóng xung kích và bức xạ. Phần lớn nghiên cứu này được tiến hành tại căn cứ Suffield của Lực lượng Vũ trang Canada ở Alberta, nơi vào năm 1964, các khối thuốc nổ thông thường lớn được sử dụng để mô phỏng sóng xung kích từ vũ khí hạt nhân. Các thành phần cũng được đưa vào các vụ nổ hạt nhân dưới lòng đất để kiểm tra khả năng chống chịu bức xạ.

Cuộc đối đầu hạt nhân 3 cực

Trong khi Nike-X đang được phát triển, các sự kiện quốc tế đã khiến việc triển khai hệ thống trở nên ngày càng cấp bách.

Ngày 16/10/1964, Trung Quốc thử nghiệm thành công quả bom nguyên tử đầu tiên, và đến ngày 17/6/1967, nước này tiếp tục thử nghiệm thành công bom nhiệt hạch. Đột nhiên, cuộc đối đầu hạt nhân vốn mang tính hai cực giữa Mỹ và Liên Xô đã trở thành ba cực.

Để đối phó với mối đe dọa mới này, ngày 18/9/1967, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara công bố việc triển khai Dự án SENTINEL - một hệ thống gồm 17 điểm bố trí Nike-X trên khắp nước Mỹ nhằm bảo vệ đất nước trước lực lượng tên lửa đạn đạo liên lục địa quy mô nhỏ tiềm tàng của Trung Quốc hoặc một cuộc tấn công hạn chế từ Liên Xô. Để đảm bảo nguồn nhân lực xây dựng cũng như khả năng tiếp cận các tiện ích và cơ sở hạ tầng, các địa điểm này sẽ được xây dựng gần các khu đô thị lớn, và toàn bộ hệ thống sẽ được điều phối từ trụ sở NORAD tại Cheyenne Mountain, Colorado thông qua mạng lưới liên lạc vi ba được gia cố.

Việc xây dựng nhanh chóng bắt đầu với địa điểm radar PAR đầu tiên tại Sharpner’s Pond, gần Boston. Tuy nhiên, gần như ngay lập tức, toàn bộ dự án vấp phải làn sóng phản đối dữ dội từ nhiều phía. Người dân tại các khu vực được chọn xây dựng lo ngại rằng các cơ sở này sẽ biến nơi họ sinh sống thành mục tiêu tấn công, và các cuộc biểu tình quy mô lớn đã nổ ra tại nhiều thành phố.

Chú thích ảnh
Công trình thuộc hệ thống SAFEGUARD ở North Dakota. Ảnh: coldwartourist

Trong khi đó, các nhà khoa học chính phủ tiếp tục đặt câu hỏi về tính hợp lý của các hệ thống ABM -không chỉ vì khả năng chúng không hiệu quả, mà còn vì chúng có thể làm gia tăng nguy cơ chiến tranh hạt nhân. Lập luận này dựa trên học thuyết hạt nhân phổ biến lúc bấy giờ: Hủy diệt Đảm bảo Lẫn nhau (MAD), vốn dựa vào khả năng cả hai siêu cường có thể tiêu diệt lẫn nhau để ngăn chặn bất kỳ bên nào phát động tấn công trước.

Một hệ thống ABM hiệu quả sẽ phá vỡ sự cân bằng mong manh này, cho phép một bên tấn công mà vẫn miễn nhiễm trước đòn trả đũa. Điều này, theo các nhà khoa học, có thể thúc đẩy bên còn lại - trong trường hợp này là Liên Xô - tiến hành một cuộc tấn công phủ đầu trước khi hệ thống phòng thủ được hoàn thiện. Nhiều chính trị gia cũng phản đối SENTINEL vì chi phí quá cao. Nghị sĩ Dân chủ Daniel Flood lập luận rằng việc xây dựng các hầm trú ẩn chống phóng xạ sẽ hiệu quả hơn nhiều trong việc cứu sống người dân Mỹ.

Bước ngoặt Hiệp ước SALT

Cuộc tranh luận về SENTINEL đạt đỉnh điểm vào năm 1969 với việc Richard Nixon đắc cử Tổng thống và đồng ý tiến hành một cuộc đánh giá toàn diện hệ thống. Kết quả là vào ngày 7/8/1969, Thượng viện Mỹ đã thông qua việc tiếp tục xây dựng SENTINEL với cách biệt chỉ một phiếu.

Nhưng khi việc xây dựng vừa mới bắt đầu, các diễn biến quốc tế một lần nữa thay đổi số phận của SAFEGUARD. Ngày 26/5/1972, Tổng thống Mỹ Nixon và Tổng Bí thư Liên Xô Leonid Brezhnev ký Hiệp ước Hạn chế Vũ khí Chiến lược (SALT), giới hạn số lượng hệ thống hạt nhân mà mỗi bên được phép triển khai. Theo hiệp ước, mỗi nước chỉ được triển khai hai hệ thống ABM với tổng cộng 100 tên lửa đánh chặn để bảo vệ các bãi phóng tên lửa và trung tâm chỉ huy chiến lược. Do đó, công trình SAFEGUARD tại Montana bị dừng lại và toàn bộ cơ sở đã xây dựng bị phá dỡ. Vì lý do ngân sách, kế hoạch bảo vệ Washington, D.C. cũng bị hủy bỏ. Kết quả là chỉ còn lại một địa điểm duy nhất tại North Dakota, được đặt theo tên Trung tướng Stanley R. Mickelsen - chỉ huy đầu tiên của Bộ Tư lệnh Phòng không Lục quân.

Toàn bộ khu phức hợp này gồm sáu địa điểm riêng biệt trải rộng trên diện tích khoảng 400 dặm vuông. Radar phát hiện vòng ngoài (PAR), được đặt trong một khối bê tông lớn hình lập phương, nằm gần thị trấn Cavalier, với ăng-ten hướng về phía bắc để phát hiện các tên lửa bay qua Bắc Cực. Radar tại trận địa tên lửa (MSR) có hình kim tự tháp với ăng-ten trên cả bốn mặt để bao phủ 360 độ, nằm gần Langdon. Tại đây cũng bố trí các silo chứa 30 tên lửa Spartan tầm xa và 16 tên lửa Sprint tầm ngắn. Ngoài ra, bốn địa điểm phóng Sprint từ xa được bố trí rải rác xung quanh, mỗi nơi chứa 16 tên lửa. Hệ thống cuối cùng đi vào hoạt động vào ngày 1/10/1975 - chỉ sớm hơn kế hoạch ba ngày. Ở thời kỳ cao điểm, cơ sở này sử dụng 500 quân nhân và 1.200 nhân viên dân sự, và quân đội đã phải nâng cấp đáng kể cơ sở hạ tầng tại các thị trấn lân cận để phục vụ lực lượng này.

Tuy nhiên, lá chắn công nghệ cao này đã không có cơ hội phát huy tác dụng. Chỉ một ngày sau khi SAFEGUARD chính thức hoạt động, Hạ viện Mỹ đã bỏ phiếu quyết định đóng cửa hệ thống. Những lý do được đưa ra vẫn quen thuộc: các biện pháp đối phó mới và công nghệ đầu đạn tách nhiều mục tiêu (MIRV) có thể dễ dàng vượt qua hệ thống; chi phí quá cao; và các hệ thống ABM làm mất ổn định cán cân chiến lược toàn cầu. Thêm vào đó, lực lượng tên lửa đạn đạo của Trung Quốc - mối đe dọa mà hệ thống được thiết kế để đối phó - thực tế không phát triển như dự đoán. Quan điểm chung cho rằng SAFEGUARD là một “hệ thống đi tìm nhiệm vụ”, và nghị sĩ George Mahon nhận định rằng việc chi hàng tỷ USD cho nó gần như không mang lại hiệu quả thực tế nào.

Chú thích ảnh
Một phần còn lại tới ngày nay của Khu phức hợp Stanley R. Mickelsen Safeguard Complex. Ảnh: coldwartourist

Dự án SAFEGUARD là kết quả của 20 năm nghiên cứu và phát triển với tổng chi phí khoảng 20 tỷ USD, trong đó riêng việc xây dựng tổ hợp Mickelsen đã tiêu tốn 6 tỷ USD (tương đương khoảng 60 tỷ USD thời giá hiện tại) trong 6 năm. Dù việc bị hủy bỏ chỉ sau một ngày hoạt động có thể khiến nó trông như một sự lãng phí khổng lồ, dự án này không phải hoàn toàn vô ích. Nhiều tiến bộ trong công nghệ radar và máy tính được phát triển cho SAFEGUARD vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay, và dự án cũng mang lại cú hích lớn cho kinh tế địa phương cũng như cơ sở hạ tầng tại North Dakota.

Quan trọng hơn, các chương trình ABM như SAFEGUARD đã trở thành quân bài mặc cả trong ngoại giao thời Chiến tranh Lạnh, góp phần thúc đẩy các hiệp ước kiểm soát vũ khí như SALT và START. Và chính những hiệp ước này, có lẽ, đã làm được nhiều hơn để duy trì hòa bình trong một thế giới hạt nhân so với bất kỳ hệ thống phòng thủ nào như SAFEGUARD.

Thu Hằng/Báo Tin tức và Dân tộc
Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN