Việc tỉnh phê duyệt Đề án Phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được kỳ vọng tạo bước chuyển từ nuôi nhỏ lẻ, truyền thống sang nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao, từng bước hình thành chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ và xuất khẩu.
Lâm Đồng đang hình thành những vùng nuôi với các đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế như cá bớp, cá mú, cá chim, tôm hùm, sò lông.
Tiềm năng từ vùng biển giàu lợi thế
Lâm Đồng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng các loại hình nuôi biển, từ những vùng vịnh kín, nửa kín ven bờ đến khu vực biển mở. Các địa bàn Phan Rí Cửa, Hòa Thắng,Tân Thành, Mũi Né… và đặc khu Phú Quý đang hình thành những vùng nuôi với các đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế như cá bớp, cá mú, cá chim, tôm hùm, sò lông...
Theo ông Nguyễn Văn Chiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng, bên cạnh những vùng nước hiếm ở ven bờ, tỉnh còn có vùng biển mở có điều kiện phù hợp để phát triển nuôi biển. Đặc biệt, theo quy luật nhiều năm, vùng biển của tỉnh ít chịu tác động trực tiếp của sóng gió, bão tố. Đặc biệt, Lâm Đồng có đặc khu Phú Quý nằm ở vùng khơi đang có tiềm năng lớn để phát triển nuôi biển.
Trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản tự nhiên chịu ngày càng nhiều sức ép, phát triển nuôi biển được xem là một hướng đi để tái cơ cấu ngành thủy sản, giảm áp lực khai thác nguồn lợi tự nhiên và tạo sinh kế ổn định hơn cho người dân ven biển. Cùng với đó, sản phẩm nuôi có điều kiện kiểm soát từ con giống, quy trình sản xuất đến thu hoạch, tạo thuận lợi cho truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Ông Nguyễn Xuân Lam, Tổng Thư ký Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam cho rằng, phát triển nuôi biển gần bờ và xa bờ là xu hướng tất yếu khi nguồn lợi tự nhiên ngày càng suy giảm và biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp. Lâm Đồng có ngư trường lớn, lực lượng lao động có truyền thống, kinh nghiệm nghề biển, là những điều kiện thuận lợi để phát triển và đào tạo nguồn nhân lực cho nghề nuôi biển.
Thực tế tại các vùng ven biển cho thấy nghề nuôi biển đang từng bước chuyển từ quy mô hộ gia đình sang hướng sản xuất có tổ chức hơn. Một bộ phận ngư dân trước đây chủ yếu khai thác hải sản nay đã chuyển sang nuôi biển, qua đó mở thêm hướng sinh kế trong điều kiện nguồn lợi tự nhiên ngày càng chịu nhiều áp lực.
Không còn phụ thuộc hoàn toàn vào những chuyến biển, từ năm 2023, ông Diệp Văn Hùng, xóm 5, thôn Hiệp Đức, xã Phan Rí Cửa đã chuyển sang nuôi thủy sản trên biển. Khu vực nuôi của gia đình ông cách bờ khoảng 1 km, với diện tích mặt nước khoảng 2 ha. Hiện gia đình ông Hùng duy trì 6 lồng nuôi, mỗi lồng khoảng 500 m³, với các đối tượng như cá bớp, cá chim, cá mú, sò lông. Gia đình ông Hùng thực hiện nuôi theo hình thức gối đầu, thời gian từ khi thả giống đến khi thu hoạch từ 8 tháng trở lên. Đây là năm thứ ba gia đình triển khai nuôi biển và quy mô sản xuất được mở rộng hơn so với những năm trước.
Theo ông Hùng, điều kiện thời tiết tương đối ổn định, độ mặn phù hợp giúp các đối tượng nuôi sinh trưởng tốt, ít xảy ra dịch bệnh. Nguồn nước tại khu vực nuôi khá sạch, trong, góp phần giúp cá có tỷ lệ sống trên 80%, chất lượng thịt tốt. Trong hai năm đầu, mỗi năm gia đình thu hoạch khoảng 30 tấn hải sản. Sản phẩm sau thu hoạch chủ yếu được đầu nậu, thương lái đến tận bè thu mua.
Để biến lợi thế thành giá trị kinh tế, Lâm Đồng đang đặt trọng tâm vào việc tổ chức lại không gian và phương thức sản xuất, hướng tới phát triển nghề nuôi biển một cách bền vững.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh, từ đầu năm 2026 đến nay hoạt động nuôi trồng thủy sản duy trì ổn định; trong đó, nuôi biển tiếp tục là một hướng phát triển được quan tâm. Các địa phương tập trung chăm sóc diện tích nuôi hiện có, tăng cường quản lý môi trường và chủ động phòng, chống dịch bệnh. Lũy kế 7 tháng năm 2026, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 3.370 ha, tăng 1,48% so với cùng kỳ năm 2025. Sản lượng nuôi trồng đạt hơn 16.320 tấn.
Những kết quả trên cho thấy nuôi trồng thủy sản đang duy trì ổn định, tạo nền tảng thực tiễn để Lâm Đồng tiếp tục mở rộng không gian và nâng cao giá trị nuôi biển. Từ các mô hình sản xuất hiện có, việc tổ chức lại không gian nuôi, ứng dụng công nghệ và hình thành liên kết sản xuất - tiêu thụ được kỳ vọng sẽ mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả kinh tế của nghề nuôi biển.
Kỳ vọng từ Đề án phát triển nuôi biển
Nghề nuôi biển tại Lâm Đồng đã có từ lâu tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế. Quy mô nuôi nhỏ, công nghệ truyền thống, nguồn giống thiếu chủ động; liên kết chuỗi giá trị còn yếu, nguồn lao động chất lượng cao thiếu hụt…
Để biến lợi thế thành giá trị kinh tế, Lâm Đồng đang đặt trọng tâm vào việc tổ chức lại không gian và phương thức sản xuất. Đề án Phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển tỉnh Lâm Đồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2941/QĐ-UBND ngày 31/12/2025, tạo cơ sở để phát triển nuôi biển theo hướng bài bản, hiện đại và bền vững.
Đề án được xây dựng trên cơ sở khảo sát, điều tra điều kiện tự nhiên, độ sâu, sóng, gió, dòng chảy; đồng thời tổ chức các hội thảo tham vấn với các nhà khoa học, cơ quan quản lý, doanh nghiệp và hộ nuôi biển. Quá trình xây dựng cũng tiếp thu ý kiến góp ý của các sở, ngành, địa phương và tổ chức phản biện trước khi hoàn thiện.
Ông Nguyễn Văn Chiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết, việc nhận diện đầy đủ tiềm năng, lợi thế đặc thù và xây dựng một đề án phát triển nuôi biển bài bản là nhiệm vụ cần thiết, có ý nghĩa chiến lược đối với ngành thủy sản Lâm Đồng. Đề án không chỉ hướng tới tạo đột phá về sản lượng và giá trị, chuyển dịch cơ cấu ngành thủy sản mà còn gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, chuyển đổi sinh kế cho ngư dân và bảo vệ môi trường sinh thái vùng bờ.
Theo mục tiêu đến năm 2030, Lâm Đồng phấn đấu duy trì, mở rộng khoảng 100-150 ha nuôi tại các vùng vũng, vịnh kín, nửa kín ven bờ; xây dựng từ 1-2 khu, cụm công nghiệp nuôi biển vùng biển mở; phát triển khoảng 5.000 ha khoanh nuôi nhuyễn thể, hải sản đặc thù và khoảng 50 ha sản xuất giống cá, hải đặc sản. Sản lượng nuôi biển dự kiến đạt 50.000-55.000 tấn, chiếm 22% tổng sản lượng thủy sản của tỉnh; giá trị sản lượng đạt 5.000-5.200 tỷ đồng, chiếm 32% giá trị sản xuất toàn ngành thủy sản; giá trị xuất khẩu từ nuôi biển khoảng 50 triệu USD.
Tầm nhìn đến năm 2045, tỉnh định hướng phát triển mạnh nuôi biển công nghiệp tại vùng biển mở, khoanh nuôi hải đặc sản có kiểm soát, đồng thời phát triển sản xuất giống cá và hải đặc sản phục vụ nuôi biển. Sản lượng nuôi biển dự kiến đạt 128.000-130.000 tấn; giá trị sản xuất nuôi biển chiếm 43-45% giá trị sản xuất toàn ngành thủy sản; kim ngạch xuất khẩu từ nuôi biển khoảng 140 triệu USD. Tỉnh cũng hướng tới chuyển đổi nghề cho khoảng 8.000-10.000 ngư dân khai thác ven bờ sang nuôi trồng, khoanh nuôi hải sản.
Đề án đồng thời đặt mục tiêu giải quyết việc làm cho khoảng 6.500-7.000 lao động; trong đó, chuyển đổi nghề cho khoảng 3.000 ngư dân khai thác ven bờ sang nuôi trồng thủy sản. Một trong những định hướng trọng tâm là chuyển mạnh từ nuôi truyền thống sang nuôi công nghiệp, bán công nghiệp; hình thành các vùng sản xuất tập trung gắn với chuỗi liên kết từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ. Tỉnh cũng khuyến khích áp dụng lồng nuôi hiện đại, công nghệ số trong quản lý môi trường, truy xuất nguồn gốc và quản lý sản xuất.
Ông Nguyễn Văn Minh, Phó Giám đốc kinh doanh Công ty TNHH Hải Triều kỳ vọng: Khi hình thành các vùng nuôi lớn, nguồn gốc và chất lượng hải sản sẽ được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo được truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường. Từ đó, doanh nghiệp có thêm cơ sở để đầu tư, đồng thời chủ động nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất trong tương lai.
Lâm Đồng là địa phương sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng các loại hình nuôi biển.
Theo ông Nguyễn Xuân Lam, Lâm Đồng cần quan tâm đồng bộ đến nguồn lực lao động, vốn, thể chế, chính sách khuyến khích và phát triển nuôi biển. Cùng với đó, quy hoạch không gian biển cần được cụ thể hóa, bảo đảm hài hòa giữa nuôi biển với các ngành kinh tế khác như du lịch, hàng hải, năng lượng và các hoạt động khai thác tài nguyên biển.
Để thực hiện các mục tiêu đề ra, Đề án xác định các nhóm giải pháp, tập trung vào giao khu vực biển, tổ chức sản xuất, cơ chế chính sách, khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu, thị trường và xúc tiến thương mại, quản lý nhà nước, hạ tầng kỹ thuật và hợp tác quốc tế.
Lâm Đồng có vùng biển giàu tiềm năng cùng hiện tượng “nước trồi” đặc trưng tạo nên hệ sinh thái biển đa dạng, phong phú.
Trong đó, chính sách hỗ trợ, hạ tầng, đào tạo nhân lực và ứng dụng khoa học công nghệ được xem là những yếu tố then chốt để tạo động lực cho người dân và doanh nghiệp đầu tư dài hạn. Các sở, ngành và chính quyền địa phương được phân công trách nhiệm cụ thể trong bố trí vùng nuôi, quản lý môi trường, phòng chống dịch bệnh, xúc tiến thương mại và đào tạo nghề cho ngư dân chuyển đổi từ khai thác ven bờ sang nuôi biển.
Lâm Đồng đang từng bước chuyển dịch phương thức khai thác giá trị từ biển. Khi không gian nuôi được quy hoạch, công nghệ được ứng dụng, sản phẩm được kiểm soát và các khâu sản xuất, chế biến, tiêu thụ được liên kết, nuôi biển sẽ có thêm điều kiện trở thành một ngành kinh tế có giá trị cao. Đây cũng là hướng đi góp phần giảm áp lực lên nguồn lợi tự nhiên, tạo sinh kế ổn định cho ngư dân và nâng cao hiệu quả khai thác không gian biển.