Một tiết mục tại Chương trình nghệ thuật Khai mạc Festival Tinh Hoa Tây Bắc - Điện Biên năm 2025. Ảnh: Xuân Tư/TTXVN
Cần có luồng sinh khí mới từ kinh tế văn hóa
Sau những biến động dữ dội của đại dịch COVID-19 và những thăng trầm kinh tế toàn cầu, chúng ta đang chứng kiến một sự hồi sinh mạnh mẽ của các giá trị văn hóa. Không gian văn hóa công cộng tại các thành phố lớn cho đến các xã vùng sâu, vùng xa đã có những chuyển biến rõ rệt. Chất lượng đời sống tinh thần của nhân dân được nâng cao thông qua các sản phẩm văn hóa đa dạng, hiện đại nhưng vẫn đậm đà bản sắc.
Đặc biệt, "kinh tế văn hóa" không còn là một khái niệm xa lạ mà đã trở thành mũi nhọn thu hút du khách trong và ngoài nước. Những chuyển biến về du lịch gắn liền với di sản, nghệ thuật biểu diễn đã minh chứng rằng: Văn hóa chính là “mỏ vàng” nếu chúng ta biết khai thác đúng cách. Tuy nhiên, để sự phát triển này mang tính bền vững, toàn diện và đồng bộ theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW, cần giải quyết những nút thắt cốt lõi về con người và hạ tầng.
Ông Lò Văn Thọ, Phó trưởng phòng Nhà hát Ca múa nhạc, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sơn La, đại biểu Quốc hội tỉnh Sơn La cho rằng, một trong những vấn đề đau đáu nhất hiện nay là chế độ, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ văn nghệ sĩ, đặc biệt là các diễn viên chuyên nghiệp và không chuyên tại các địa phương.
Điệu múa sạp mừng Xuân mới của người vùng cao Tây Bắc. Ảnh: Hương Thu/TTXVN
Nghệ sĩ ưu tú Lò Văn Thọ cho biết: Hiện nay, mức lương của những người làm công tác văn hóa vẫn ở mức rất thấp so với mặt bằng chung của xã hội và cường độ lao động đặc thù. Nghệ thuật là một ngành lao động đặc biệt, đòi hỏi sự khổ luyện và tiêu tốn nhiều năng lượng tinh thần lẫn thể chất. Thế nhưng, thu nhập hiện tại chưa đảm bảo được mức an sinh xã hội tối thiểu cho nghệ sĩ. Khi "cơm áo không đùa với khách thơ", sự nhiệt huyết với nghề sẽ dần bị bào mòn, dẫn đến nguy cơ chảy máu chất xám trong ngành văn hóa.
Bên cạnh đó, bất cập về tuổi nghề và tuổi nghỉ chế độ cũng là vấn đề khiến nhiều nghệ sĩ trăn trở. Đây là vấn đề mang tính đặc thù nghề nghiệp rất cao nhưng chưa được luật hóa một cách thỏa đáng. Các diễn viên múa, xiếc hay nghệ thuật biểu diễn thường phải bắt đầu đào tạo từ rất sớm. Hệ đào tạo 7 năm phải tuyển từ lớp 6, hệ 4 năm sẽ phải tuyển từ lớp 9. Khi tốt nghiệp ở tuổi 18 - 19, các em đã có thâm niên tập luyện gian khổ gần một thập kỷ. Tuy nhiên, tuổi nghề của diễn viên, đặc biệt là diễn viên múa, rất ngắn. Sau tuổi 40 đối với nữ và 50 đối với nam, khả năng vận động cơ thể, xương khớp không còn cho phép họ thực hiện những động tác kỹ thuật khó trên sân khấu. Việc áp dụng tuổi nghỉ hưu như công chức, viên chức bình thường là một sự bất hợp lý lớn.
Nghệ sĩ ưu tú Lò Văn Thọ kiến nghị cần có cơ chế đặc thù cho phép diễn viên chuyên nghiệp nữ được nghỉ chế độ từ tuổi 40 - 45 và nam từ tuổi 50 - 55. Đây không chỉ là sự đãi ngộ mà là sự nhân văn đối với một nghề nghiệp có sự tàn phá thể chất âm thầm nhưng khốc liệt.
Đoàn nghệ thuật quần chúng phường Tô Hiệu, tỉnh Sơn La trình diễn tại Liên hoan nghệ thuật xòe Thái lần thứ 2 - năm 2025. Ảnh: Nguyễn Cường/TTXVN
Cần những giá trị thực chất hơn
Đại biểu Quốc hội Lò Văn Thọ cho biết, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc phong tặng các danh hiệu cao quý như Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú, Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú. Đây là niềm tự hào lớn lao, là sự ghi nhận cống hiến cả đời của một con người. Thế nhưng có một thực tế là, sau lễ trao tặng linh đình, nhiều nghệ sĩ, nghệ nhân trở về địa phương với tấm bằng khen nhưng cuộc sống vẫn đối mặt với muôn vàn khó khăn. Đặc biệt là các nghệ nhân - những "bảo tàng sống" đang giữ gìn hồn cốt dân tộc ở các bản làng. Họ không có lương hưu, không có phụ cấp hàng tháng sau danh hiệu.
Để danh hiệu không chỉ dừng lại ở sự vinh danh về mặt tinh thần, ông Lò Văn Thọ kiến nghị Chính phủ cần nghiên cứu có chế độ đãi ngộ tài chính hàng tháng cho nhóm đối tượng này. Dù mức hỗ trợ có thể không quá lớn, nhưng đó là nguồn động viên thiết thực để họ tiếp tục cống hiến, truyền dạy và gìn giữ di sản cho thế hệ mai sau.
Việc gìn giữ, bảo tồn nét đẹp văn hóa, văn nghệ dân gian đặc trưng của dân tộc Lự, một trong 14 dân tộc rất ít người ở xã Bản Hon, huyện Tam Đường, Lai Châu, thông qua các điệu múa, điệu xòe, làn điệu dân ca, dân vũ gắn liền với đời sống sinh hoạt hàng ngày đã góp phần làm giàu thêm kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam. Ảnh: Quý Trung/TTXVN
Nhìn từ câu chuyện của Nhà hát Ca múa nhạc tỉnh Sơn La, nghệ sĩ ưu tú Lò Văn Thọ thấy rõ lỗ hổng trong đầu tư thiết chế văn hóa. Tên gọi là "Nhà hát", nhưng điều kiện luyện tập lại chỉ dừng lại ở mức "phòng hát". Đối với một diễn viên múa, sàn tập là "linh hồn". Sàn phải có độ đàn hồi, có lớp nỉ tiêu chuẩn để giảm chấn thương xương khớp. Việc luyện tập trên những mặt sàn cứng, không đạt chuẩn là sự đánh đổi sức khỏe và tuổi thọ nghề nghiệp một cách đau xót.
Hơn nữa, sự chênh lệch vùng miền trong đầu tư thiết chế văn hóa đang rất rõ rệt. Trong khi khu vực Đông Bắc (Thái Nguyên, Phú Thọ) đã có những nhà hát tương đối khang trang, thì khu vực Tây Bắc, cái nôi của nhiều giá trị văn hóa đặc sắc vẫn đang mòn mỏi chờ đợi một sân chơi mang tầm quốc tế. Nghệ sĩ ưu tú Lò Văn Thọ kỳ vọng: “Chúng ta cần những nhà hát đúng nghĩa tại các trung tâm vùng, nơi không chỉ để biểu diễn nghệ thuật phong trào mà còn là nơi để nhân dân vùng cao được thưởng thức những tác phẩm âm nhạc hàn lâm, những chương trình nghệ thuật đỉnh cao của thế giới. Đó mới chính là sự phát triển văn hóa toàn diện”.
Đại biểu Quốc hội tỉnh Sơn La, Lò Văn Thọ mong muốn trong khuôn khổ Chương trình mục tiêu quốc gia, việc sưu tầm và lưu giữ các giá trị dân ca, dân vũ, dân nhạc là nhiệm vụ cấp bách. Tuy nhiên, chúng ta đang ở trong một "cuộc đua" mà phần thua đang nghiêng về phía mình. Các già làng, trưởng bản, những nghệ nhân nắm giữ bí quyết văn hóa đều đã ở tuổi "xế chiều". Khi họ nằm xuống, một kho tàng tri thức dân gian cũng sẽ mất đi vĩnh viễn.
Tiết mục sáo trúc bài "Mùa Xuân chiến khu" do đội văn nghệ cựu giáo chức Mầm non xã Quỳnh Nhai tỉnh Sơn La biểu diễn. Ảnh: Quý Trung/TTXVN
Về những giải pháp căn cơ, ông Lò Văn Thọ kiến nghị cần đưa văn hóa vào học đường. Để bảo tồn bản sắc một cách bền vững, không thể chỉ trông chờ vào khối chuyên nghiệp. Cần có chế độ đãi ngộ thỏa đáng cho các nghệ nhân trực tiếp tham gia giảng dạy, truyền thụ tại địa phương. Xây dựng chương trình giáo dục địa phương, đưa làn điệu dân ca, điệu múa của ông cha vào các tiết học ngoại khóa, nghệ thuật.
Khi các em học sinh, những chủ nhân tương lai của đất nước biết trân trọng và biết trình diễn những di sản của dân tộc mình, lúc đó văn hóa mới thực sự sống và tự thân phát triển, thay vì chỉ được trưng bày trong bảo tàng hay trên sân khấu chuyên nghiệp.
Phát triển văn hóa theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW và Chương trình mục tiêu quốc gia không phải là những khẩu hiệu xa vời. Đó là việc chăm lo cho từng bữa cơm, tấm áo của người nghệ sĩ; là việc xây dựng những sàn múa đạt chuẩn để bảo vệ đôi chân diễn viên; là việc trân trọng những nghệ nhân đang miệt mài giữ lửa nơi rẻo cao.
Đã đến lúc chúng ta cần một cái nhìn đồng bộ, đầu tư cho văn hóa chính là đầu tư cho con người, đầu tư cho tương lai bền vững của dân tộc. Hy vọng rằng, với sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước và sự điều chỉnh chính sách kịp thời, nền văn hóa nước nhà sẽ thực sự cất cánh, xứng đáng với tầm vóc của một dân tộc giàu truyền thống và khát vọng.