Tại Hội nghị Trung ương lần thứ ba, khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Không để giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về văn hóa, đạo đức, tình người; không để tăng trưởng làm gia tăng bất bình đẳng hoặc đẩy người yếu thế ra bên lề”. Đây cũng là định hướng xuyên suốt trong quá trình hoạch định và triển khai các chính sách phát triển văn hóa ở nước ta hiện nay.
Phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc (Thông tấn xã Việt Nam) đã có cuộc trao đổi với bà Ninh Thị Thu Hương, Cục trưởng Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện, về những giải pháp phát huy vai trò của văn hóa cơ sở, xây dựng gia đình Việt Nam hạnh phúc, bền vững và phát triển văn hóa đọc trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó góp phần bồi đắp con người Việt Nam phát triển toàn diện.
Bà Ninh Thị Thu Hương, Cục trưởng Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch.
Thưa Cục trưởng, văn hóa cơ sở đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nếp sống, đạo đức và các giá trị cộng đồng. Làm thế nào để các thiết chế văn hóa cơ sở phát huy đúng vai trò trong bồi đắp nhân cách, lối sống trong bối cảnh mới hiện nay?
Để các thiết chế văn hóa cơ sở thực sự trở thành không gian nuôi dưỡng con người, tôi cho rằng, điều quan trọng là phải chuyển từ tư duy “đầu tư cho thiết chế” sang “đầu tư cho hoạt động và con người”.
Trước hết, cần tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, chiến lược của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hóa, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Trong đó, ưu tiên ban hành hướng dẫn cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế tổ chức hoạt động của thiết chế văn hóa, thể thao cấp xã, nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng để các thiết chế hoạt động hiệu quả, phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân.
Song song với đó rà soát, phân bố lại mạng lưới thiết chế văn hóa, các trung tâm văn hoá hiện có theo địa giới hành chính mới, gắn với mật độ dân cư và nhu cầu thực tiễn. Đồng thời phải được quy hoạch ở vị trí thuận lợi, có kiến trúc phù hợp với bản sắc địa phương, được đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, trang thiết bị và công năng để trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng. Những trung tâm còn lại sẽ đóng vai trò là các điểm vệ tinh, mở rộng khả năng phục vụ người dân ở các khu vực khác. Ngoài ra, cần ban hành bộ tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu áp dụng thống nhất để phân loại chức năng và thuận lợi trong công tác quản lý, khai thác, vận hành.
Nguồn lực đầu tư cũng cần được quan tâm đúng mức. Bên cạnh việc ưu tiên ngân sách để xây dựng, cải tạo, nâng cấp những công trình xuống cấp, hoặc những địa bàn còn thiếu thiết chế, cần đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích các mô hình hợp tác công - tư nhằm huy động thêm nguồn lực cho phát triển văn hóa cơ sở.
Tạo cơ chế để nghệ nhân, nghệ sĩ đồng hành cùng phát triển văn hóa cơ sở.
Tuy nhiên, cơ sở vật chất chỉ là điều kiện cần. Điều quyết định sức sống của thiết chế văn hóa vẫn là đội ngũ con người và chất lượng hoạt động. Theo tôi, cần tăng cường tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, tuyên truyền lưu động, ưu tiên nâng cao kỹ năng tổ chức hoạt động gắn liền với chức năng, nhiệm vụ và nhu cầu thực tiễn cơ sở.
Cùng với đó, phải đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động theo hướng đa dạng, thiết thực, phù hợp với từng nhóm tuổi, đối tượng; bảo đảm các thiết chế hoạt động thường xuyên, thực chất, trở thành điểm đến quen thuộc của người dân chứ không chỉ là nơi tổ chức các sự kiện theo mùa vụ. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý, điều hành và tổ chức các hoạt động văn hóa cũng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phục vụ và mở rộng khả năng tiếp cận của người dân.
Đặc biệt, cần hoàn thiện cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng và hỗ trợ kinh phí cho hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở. Đồng thời, có chính sách khuyến khích các nghệ nhân, văn nghệ sĩ, các câu lạc bộ, cộng tác viên và lực lượng nòng cốt tại địa phương tham gia tổ chức các hoạt động phục vụ cộng đồng. Khi huy động được sức sáng tạo và sự chung tay của người dân, thiết chế văn hóa sẽ thực sự trở thành không gian kết nối cộng đồng, lan tỏa những giá trị nhân văn, bồi đắp nhân cách, lối sống đẹp và tinh thần đoàn kết trong xã hội.
Đặt nghệ nhân, nghệ sĩ ở vị trí trung tâm của hoạt động văn hóa cộng đồng.
Gia đình được xem là “tế bào của xã hội”, là nơi hình thành nhân cách và các giá trị đạo đức. Theo bà, cần làm gì để xây dựng gia đình Việt Nam thực sự trở thành điểm tựa, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển con người toàn diện?
Muốn hiện thực hóa mục tiêu phát triển con người Việt Nam toàn diện trước hết phải bắt đầu từ việc xây dựng những gia đình hạnh phúc, bền vững. Theo tôi, điều quan trọng nhất là phải chuyển từ cách tiếp cận coi xây dựng gia đình là một phong trào, sang coi đây là một chính sách phát triển con người.
Gia đình là không gian nuôi dưỡng tình yêu thương, sự tôn trọng, trách nhiệm, lòng nhân ái và các giá trị văn hóa. Một gia đình thực sự hạnh phúc phải là nơi mỗi thành viên được yêu thương, được lắng nghe, được bảo vệ và có điều kiện phát triển toàn diện cả về thể chất, tinh thần lẫn năng lực đóng góp cho xã hội.
Trong bối cảnh đó, Bộ chỉ số Gia đình hạnh phúc có ý nghĩa rất quan trọng. Đây không đơn thuần là một bộ tiêu chí đánh giá, mà là tập hợp các tiêu chí nhằm đo lường và đánh giá về mức độ hài lòng của các thành viên gia đình đối với các yếu tố nền tảng như: Sự gắn kết trong quan hệ gia đình, điều kiện vật chất, tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần, môi trường sống và vị thế của gia đình với dòng họ, cộng đồng, xã hội. Các tiêu chí trong Bộ chỉ số được lượng hóa thông qua thang điểm, có trọng số cụ thể và có thể áp dụng cho nhiều nhóm đối tượng khác nhau.
Điều chúng tôi hướng tới không phải là “chấm điểm” hay “xếp hạng” từng gia đình. Kết quả đánh giá sẽ được tổng hợp theo địa bàn để giúp cơ quan quản lý nhận diện những vấn đề nổi lên ở từng địa phương.
Chẳng hạn, nếu chỉ số về sự gắn kết gia đình thấp thì cần tăng cường giáo dục kỹ năng làm cha mẹ, phòng, chống bạo lực gia đình; nếu chỉ số về điều kiện vật chất còn hạn chế thì cần có các chính sách an sinh, giảm nghèo, tạo sinh kế; nếu sức khỏe tinh thần của các thành viên chưa được bảo đảm thì cần quan tâm nhiều hơn đến các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần, tư vấn tâm lý và cân bằng giữa công việc với cuộc sống gia đình. Nói cách khác, Bộ chỉ số sẽ cung cấp bằng chứng thực tiễn để các chính sách về gia đình ngày càng sát thực tế, trúng và đúng nhu cầu của người dân.
Bộ chỉ số Gia đình hạnh phúc cũng có mối quan hệ hữu cơ với Hệ giá trị gia đình Việt Nam. Nếu Hệ giá trị gia đình với các chuẩn mực “no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh” xác định mục tiêu mà mỗi gia đình hướng tới, thì Bộ chỉ số chính là công cụ giúp đo lường mức độ hiện thực hóa những giá trị đó trong đời sống.
Qua việc theo dõi thường xuyên, chúng ta có thể đánh giá hiệu quả của các chính sách về gia đình, đồng thời tiếp tục hoàn thiện các giải pháp nhằm xây dựng gia đình Việt Nam phát triển bền vững trong thời kỳ mới.
Hiện nay, Bộ chỉ số Gia đình hạnh phúc đang được triển khai thí điểm tại TP Hồ Chí Minh và TP Hải Phòng giai đoạn 2025 - 2029. Kết quả thí điểm sẽ là cơ sở khoa học quan trọng để hoàn thiện phương pháp đánh giá trước khi xem xét áp dụng trên phạm vi toàn quốc.
Trong quá trình triển khai, chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc khách quan, ứng dụng công nghệ thông tin và tuyệt đối không sử dụng kết quả Bộ chỉ số để thay thế việc xét tặng danh hiệu “Gia đình văn hóa” hay tạo áp lực đối với các gia đình…
Tôi tin rằng, khi mỗi gia đình đều trở thành một môi trường an toàn, yêu thương, bình đẳng và hạnh phúc thì sẽ tạo nên nền tảng vững chắc để hình thành những công dân có nhân cách, có tri thức, có trách nhiệm với cộng đồng. Đó cũng chính là con đường căn cơ và bền vững nhất để xây dựng nguồn lực con người Việt Nam, góp phần thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong giai đoạn mới.
Đánh thức văn hóa đọc bằng những trải nghiệm sáng tạo, sinh động.
Trước tác động mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ số, cần đổi mới việc phát triển văn hóa đọc và hệ thống thư viện theo hướng nào để không chỉ lan tỏa thói quen đọc mà còn nâng cao năng lực thông tin, tư duy phản biện và hình thành công dân số có trách nhiệm, thưa Cục trưởng?
AI và công nghệ số đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong cách con người tiếp cận, tìm kiếm và sử dụng thông tin. Điều đó cũng đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ việc phát triển văn hóa đọc và hệ thống thư viện.
Theo tôi, mục tiêu hiện nay bên cạnh việc khuyến khích người dân đọc nhiều hơn, thì cần hướng tới hình thành năng lực đọc trong môi trường số, nâng cao năng lực thông tin, tư duy phản biện và xây dựng công dân số có trách nhiệm.
Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách để tạo nền tảng cho phát triển văn hóa đọc trong bối cảnh mới. Cùng với việc triển khai hiệu quả Luật Thư viện, chúng tôi sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn, triển khai Đề án phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng, đồng thời xây dựng các cơ chế về đầu tư, liên thông thư viện, đặt hàng, tài trợ và phát triển đội ngũ cán bộ thư viện đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số.
Phát huy vai trò Phố sách trong phát triển văn hóa đọc.
Một định hướng quan trọng là củng cố và hiện đại hóa mạng lưới thư viện, từ thư viện công cộng, thư viện trường học, thư viện chuyên ngành đến thư viện tư nhân phục vụ cộng đồng, các tủ sách cơ sở và không gian đọc mở. Đặc biệt, cần ưu tiên đầu tư cho khu vực nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo và những địa bàn còn nhiều khó khăn để bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận tri thức.
Song song với đó là đổi mới phương thức phục vụ theo hướng lấy người đọc làm trung tâm. Thư viện không chỉ là nơi lưu giữ sách mà cần trở thành không gian học tập, sáng tạo và kết nối cộng đồng. Các mô hình thư viện lưu động, xe ô tô thư viện, không gian đọc đa chức năng, cùng các dịch vụ dành cho trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật sẽ tiếp tục được phát huy. Quan trọng hơn, thư viện cần tăng cường các hoạt động hướng dẫn kỹ năng đọc, kỹ năng khai thác và sử dụng thông tin một cách hiệu quả.
Đổi mới Ngày Sách và Văn hóa đọc, mở rộng không gian đọc, kết nối tri thức số.
Trong bối cảnh AI phát triển mạnh mẽ, chuyển đổi số sẽ là động lực quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động thư viện. Chúng tôi sẽ tiếp tục thúc đẩy số hóa tài nguyên thông tin, phát triển thư viện số và các nền tảng dùng chung, tăng cường kết nối, liên thông và chia sẻ dữ liệu giữa các thư viện.
Đồng thời phát triển tài nguyên điện tử, sách nói, học liệu mở; từng bước ứng dụng AI, công nghệ mới trong quản lý, tra cứu, cá thể hóa dịch vụ thư viện và nâng cao năng lực số cho người làm công tác thư viện và người sử dụng. Tuy nhiên, AI không thay thế vai trò của con người, mà là công cụ hỗ trợ để người đọc tiếp cận tri thức nhanh hơn, hiệu quả hơn.
Bên cạnh đó, việc phát triển văn hóa đọc cần được triển khai đồng bộ trong gia đình, nhà trường và cộng đồng thông qua các hoạt động như: Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam, Cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc, các câu lạc bộ sách, mô hình gia đình đọc sách, trường học đọc sách và nhiều sáng kiến khuyến đọc tại cơ sở.
Ngoài ra, cần tăng cường xã hội hóa, huy động nguồn lực và hợp tác quốc tế thông qua việc khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư, tài trợ; phát triển thư viện tư nhân phục vụ cộng đồng; nhân rộng các mô hình hợp tác hiệu quả; hợp tác, trao đổi tài nguyên thông tin, chuyên gia và công nghệ quốc tế. Đặc biệt chú trọng đến việc huy động nguồn lực cho vùng khó khăn và nhóm yếu thế…
Mang thư viện đến với vùng cao, chắp cánh ước mơ cho học sinh yếu thế.
Cuối cùng, truyền thông cần được đổi mới mạnh mẽ để phù hợp với môi trường số. Không chỉ giới thiệu sách, chúng ta cần xây dựng các sản phẩm truyền thông số hấp dẫn, phát huy hiệu quả của báo chí, mạng xã hội và hệ thống thông tin cơ sở để lan tỏa tình yêu sách, đồng thời hướng dẫn người dân kỹ năng lựa chọn, tiếp nhận, kiểm chứng và sử dụng thông tin an toàn, hiệu quả, có trách nhiệm trong không gian mạng.
Tôi cho rằng, trong kỷ nguyên số, thư viện cần phải trở thành trung tâm kết nối tri thức số, hỗ trợ học tập suốt đời và bồi dưỡng năng lực công dân số. Phát triển văn hóa đọc vì thế cũng cần được nhìn nhận theo một cách tiếp cận mới. Không chỉ nuôi dưỡng thói quen đọc, mà còn góp phần hình thành những con người có tư duy độc lập, biết phản biện, có năng lực thích ứng với sự phát triển của công nghệ và có trách nhiệm với cộng đồng trong môi trường số.
Trân trọng cảm ơn bà.