Công nhân xây dựng Việt Nam tại một công trình lớn ở Petah Tikva. Ảnh: Đức Trung - P/v TTXV tại Trung Đồng
Thời gian qua, nhiều quốc gia châu Á như Ấn Độ, Thái Lan, Sri Lanka, Trung Quốc, Moldova và một số nguồn lao động khác cũng đã và đang tham gia vào quá trình bổ sung nhân lực cho thị trường Israel, đặc biệt trong các lĩnh vực xây dựng, nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Điều này cho thấy nhu cầu nhân lực tại Israel là xu hướng chung của thị trường, đồng thời phản ánh việc Israel đang mở rộng các kênh hợp tác lao động quốc tế trong bối cảnh thiếu hụt nhân công sau xung đột.
Trong khi Việt Nam và Israel vẫn đang tiếp tục đàm phán để hoàn thiện cơ chế hợp tác lao động song phương, đã có doanh nghiệp Việt Nam chủ động và được cơ quan chức năng Việt Nam cấp phép triển khai mô hình hợp tác trực tiếp giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cấp thiết từ phía Israel.
Theo mô hình này, lao động Việt Nam được tuyển chọn, đào tạo và đưa sang Israel làm việc trực tiếp tại các dự án do doanh nghiệp Việt Nam tham gia thi công, dưới sự quản lý và tổ chức của chính doanh nghiệp đưa đi. Đây được xem là hướng tiếp cận mới, giúp bảo đảm tính chủ động về nhân lực, điều kiện làm việc và công tác quản lý lao động tại công trường.
Theo Hiệp hội các nhà thầu tại Israel, đến giữa năm 2026, ngành xây dựng nước này vẫn thiếu khoảng 40 nghìn lao động trực tiếp trong các lĩnh vực thi công bê tông, cốt thép, vận hành máy móc và hoàn thiện công trình. Nhiều dự án lớn tại Israel đang chịu áp lực tiến độ vì thiếu nhân công kỹ thuật . Nhiều dự án tại các thành phố lớn đang chịu áp lực tiến độ vì thiếu nhân công kỹ thuật.
Israel đã mở rộng mạnh hạn ngạch tiếp nhận lao động nước ngoài trong nhiều lĩnh vực như xây dựng, nông nghiệp, chăm sóc người già, khách sạn và dịch vụ, từ khoảng 30 nghìn lao động trước xung đột lên hơn 60 nghìn lao động trong năm 2025. Việc nhiều quốc gia tiếp tục duy trì hoặc mở rộng hợp tác lao động với Israel cho thấy thị trường này vẫn đang vận hành trong khuôn khổ có tổ chức, có kiểm soát và có nhu cầu thực tế về nhân lực quốc tế.
Dù tình hình an ninh khu vực vẫn cần được theo dõi thường xuyên, phía Israel cũng tăng cường các biện pháp bảo đảm an toàn cho lao động quốc tế. Từ thực tế tại một số công trường, người lao động nước ngoài được bố trí làm việc trong khuôn khổ có quản lý, có phân công công việc, có hướng dẫn an toàn và có phương án ứng phó khi phát sinh tình huống khẩn cấp.
Đáng chú ý, trong bối cảnh nhu cầu xây dựng bùng nổ tại Israel, doanh nghiệp Việt Nam cũng đang từng bước khẳng định năng lực quốc tế. Từ năm 2025, Công ty Cổ phần Xây dựng Central trở thành một trong số ít nhà thầu quốc tế được Chính phủ Israel cấp phép trực tiếp tham gia xây dựng hạ tầng và nhà ở. Đây là lần đầu tiên một doanh nghiệp xây dựng Việt Nam đưa kỹ sư và công nhân sang Israel theo mô hình hợp tác trực tiếp giữa doanh nghiệp Việt Nam và đối tác Israel.
Phóng viên TTXVN phỏng vấn anh Hoàng Văn Nam, công nhân công ty Central tại Israel. Ảnh: Đức Trung
Không chỉ đưa lao động sang làm việc, doanh nghiệp này còn mang theo quy trình quản lý thi công, hệ thống kiểm soát chất lượng và tiêu chuẩn an toàn quốc tế. Central đã tham gia sâu vào chuỗi thi công tại Israel sau khi vượt qua quá trình đánh giá năng lực quốc tế khắt khe. Đến nay, Central đã triển khai 3 dự án tại Tel Aviv, Petah Tikva, Ramat Gan và sẽ triển khai thêm 1 dự án vào giữa tháng 6/2026, đồng thời đang tiếp tục tìm kiếm cơ hội tham gia các dự án mới trong thời gian tới.
Theo ông Nguyễn Viết Toàn, Giám đốc dự án của Central tại Israel, người lao động Việt Nam tại các dự án không làm việc tự phát, không tự tìm việc bên ngoài, mà được tổ chức theo danh sách, tổ đội, vị trí công trường và đầu mối quản lý cụ thể, mức thu nhập trung bình của công nhân tương đương khoảng 70 triệu đến 90 triệu đồng. Doanh nghiệp bố trí nơi ở, phương tiện đưa đón, bảo hộ lao động, hướng dẫn an toàn và các quy trình ứng phó khi có tình huống khẩn cấp tại địa phương.
Ông Nguyễn Viết Toàn nhấn mạnh Central mong muốn chứng minh doanh nghiệp Việt Nam sang đây không chỉ mang lao động mà còn khẳng định được vị thế của người lao động, cũng như là doanh nghiệp, thương hiệu của Việt Nam trên thị trường quốc tế thông qua việc quản lý, tiêu chuẩn kỹ thuật.
Theo ghi nhận từ một số đối tác Israel, lao động Việt Nam được đánh giá tích cực nhờ sự chăm chỉ, tinh thần chịu khó và tính kỷ luật trong công việc. Nhiều nhà thầu cho rằng đây là lợi thế giúp lao động Việt Nam có khả năng thích nghi với môi trường thi công cường độ cao và yêu cầu kỹ thuật khắt khe. Dù vậy, các chuyên gia cũng cho rằng nhu cầu lao động nước ngoài tại Israel phụ thuộc nhiều vào tình trạng thiếu hụt nhân lực trong từng giai đoạn. Trong trường hợp nguồn lao động trong nước được bổ sung đầy đủ hơn trong tương lai, Israel có thể sẽ xem xét hạn chế dần hạn ngạch tiếp nhận lao động nước ngoài ở một số lĩnh vực.
Từ những ghi nhận thực tế tại các công trường xây dựng ở Israel, các cơ quan chức năng của Việt Nam cần có sự đánh giá toàn diện, khách quan hơn về điều kiện làm việc, mức độ an toàn cũng như hiệu quả hợp tác lao động tại đây, qua đó xem xét tạo điều kiện để người lao động Việt Nam tiếp tục có cơ hội sang Israel làm việc hợp pháp, ổn định và an toàn trong thời gian tới.