Cảng Quy Nhơn - cửa ngõ xuất nhập khẩu chủ lực hàng hóa của Tây Nguyên, là điểm đầu trong hệ thống logistics của tỉnh Gia Lai. Ảnh: Kha Phạm/TTXVN
Bài 1: Một chỉnh thể, nhiều động lực
Gia Lai đang đứng trước một cuộc chuyển mình có lẽ lớn nhất trong lịch sử phát triển của vùng đất này. Điều đáng chú ý không nằm ở việc địa giới được mở rộng hay quy mô dân số tăng lên, mà ở cách một không gian phát triển hoàn toàn mới đang được kiến tạo. Trên nền tảng quy hoạch mới, tỉnh lựa chọn tư duy phát triển lấy quy hoạch dẫn dắt, lấy đất đai tạo nguồn lực, lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư nhân và lấy cải cách hành chính làm động lực.
Ba tầng không gian – một tư duy phát triển
Điều thay đổi lớn nhất của Gia Lai không nằm ở diện tích hơn 21.500 km² hay quy mô dân số gần 3,6 triệu người, mà ở cách tổ chức lại không gian phát triển. Từ một tỉnh cao nguyên và một tỉnh duyên hải, Gia Lai đang được kiến tạo thành một chỉnh thể thống nhất, trong đó biển, cao nguyên và cửa khẩu quốc tế không còn phát triển theo những hướng riêng mà trở thành các cực bổ trợ, tạo động lực mới cho cả vùng.
Trong tháng 6/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Phạm Anh Tuấn liên tiếp làm việc với các xã, phường khu vực Pleiku, khu vực Quy Nhơn và khu vực Hoài Nhơn. Đây là ba khu vực được xác định là động lực của tỉnh trong giai đoạn tới. Tại các buổi làm việc, ông Phạm Anh Tuấn nhấn mạnh các địa phương phải phát triển theo tư duy "một chỉnh thể - nhiều động lực", tuyệt đối tránh tư duy cục bộ địa giới hành chính; lấy quy hoạch mở đường, lấy quỹ đất tạo nguồn lực, lấy các dự án động lực dẫn dắt tăng trưởng.
Thông điệp xuyên suốt được người đứng đầu chính quyền tỉnh nhấn mạnh là mỗi khu vực có chức năng khác nhau, khai thác những lợi thế riêng nhưng cùng hướng tới mục tiêu tạo nên sức mạnh tổng thể cho toàn tỉnh. Khu vực Quy Nhơn giữ vai trò đầu tàu kinh tế biển; khu vực Hoài Nhơn phát huy lợi thế công nghiệp, cảng biển và logistics phía Đông Bắc của tỉnh; còn Pleiku là trung tâm của không gian cao nguyên và cửa ngõ kết nối biên giới. Ba khu vực động lực không phát triển tách rời mà bổ trợ cho nhau, mỗi khu vực là một mắt xích trong cấu trúc phát triển chung của Gia Lai.
Một địa phương có thể mở rộng địa giới bằng một quyết định hành chính. Nhưng để mở rộng không gian phát triển cần nhiều hơn một quyết định. Điều đang diễn ra ở Gia Lai là sự thay đổi trong tư duy tổ chức phát triển. Ba tầng không gian gồm không gian biển, không gian trung phần và không gian cao nguyên - biên giới đang từng bước được kết nối thành một chỉnh thể thống nhất, mở ra dư địa tăng trưởng chưa từng có cho Gia Lai trong nhiều thập niên tới.
Ở phía Đông là không gian biển, nơi hội tụ cảng biển, khu kinh tế, các đô thị duyên hải, công nghiệp, logistics, khoa học công nghệ và cửa ngõ hội nhập quốc tế.
Ở trung phần là không gian An Khê - Tây Sơn Thượng đạo, nơi những dòng chảy lịch sử, văn hóa và giao thương gặp nhau suốt hàng trăm năm qua. Từ một "trường giao dịch" giữa đại ngàn và duyên hải, An Khê hôm nay tiếp tục giữ vai trò bản lề trên hành lang Đông - Tây, kết nối không gian biển với cao nguyên.
Ở phía Tây là không gian cao nguyên - biên giới, với hạt nhân là khu vực Pleiku mở rộng, Chư Sê, Đak Đoa và Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh. Đây là vùng hội tụ các trung tâm dịch vụ, logistics, công nghiệp chế biến, nông nghiệp công nghệ cao, vùng nguyên liệu quy mô lớn và cửa ngõ kết nối với khu vực tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia.
Ba tầng không gian ấy không tồn tại độc lập. Biển tạo cửa ngõ hội nhập. Trung phần giữ vai trò kết nối. Cao nguyên tạo vùng nguyên liệu, không gian phát triển và mở rộng liên kết quốc tế qua cửa khẩu.
Kết nối để tạo động lực
Nếu không gian phát triển mới là khung kiến trúc tổng thể thì các khu vực động lực sẽ là những đầu tàu tạo lực kéo.
Khu vực Quy Nhơn được xác định là khu vực động lực trung tâm với thế mạnh kinh tế biển, thương mại, dịch vụ, logistics và đổi mới sáng tạo; cùng với đó là khu vực động lực phía Tây với hạt nhân Pleiku - Chư Sê - Đak Đoa - Lệ Thanh, khu vực Hoài Nhơn được xác định là một trong những khu vực động lực quan trọng ở phía Đông Bắc của tỉnh. Theo kết luận của Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Anh Tuấn sau chuyến kiểm tra quy hoạch và các dự án trọng điểm, khu vực này không chỉ hội tụ lợi thế về công nghiệp, cảng biển, logistics, kinh tế biển, thương mại và dịch vụ mà còn giữ vai trò kết nối giữa vùng duyên hải với khu vực phía Tây, tạo sức lan tỏa cho toàn bộ không gian phát triển của tỉnh.
Cảnh xếp dỡ container tại cảng biển Quy Nhơn, một trong 2 cổng kết nối quốc tế của tỉnh Gia Lai, tạo nên luồng lưu thông hàng hóa liên tục, thông suốt. Ảnh: Kha Phạm/TTXVN
Các khu vực động lực ấy không cạnh tranh với nhau mà bổ trợ cho nhau. Biển mở ra không gian hội nhập quốc tế. Cao nguyên tạo nguồn hàng, vùng nguyên liệu và dư địa phát triển bên trong lục địa. Khi được kết nối bằng hệ thống giao thông, logistics và quy hoạch thống nhất, lợi thế của mỗi khu vực sẽ không dừng lại ở chính khu vực đó mà lan tỏa trên phạm vi toàn tỉnh.
Bên cạnh ba tầng không gian và các khu vực động lực, Gia Lai đang từng bước hình thành ba trục hành lang động lực để kết nối toàn bộ không gian của tỉnh. Trong đó, trục hành lang Đông - Tây với hạt nhân là tuyến cao tốc Quy Nhơn - Pleiku trong tương lai sẽ mở thêm một hành lang vận tải hiện đại, kết nối xuyên suốt từ cảng Quy Nhơn qua An Khê, Pleiku đến Cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh, mở rộng không gian giao thương giữa duyên hải, Tây Nguyên và các nước trong Tiểu vùng Mê Công mở rộng.
Hai trục hành lang Bắc - Nam được hình thành trên nền tảng hệ thống hạ tầng chiến lược. Trong đó, trục phía Đông gắn với cao tốc Bắc - Nam, Quốc lộ 1, đường ven biển và định hướng tuyến đường sắt tốc độ cao quốc gia; trục phía Tây lấy đường Hồ Chí Minh (Quốc lộ 14) làm xương sống, kết nối không gian cao nguyên với các tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.
Ba trục hành lang không chỉ rút ngắn khoảng cách địa lý mà còn tạo nên mạng lưới kết nối giữa vùng biển, trung phần và cao nguyên, giúp các không gian phát triển, các khu vực động lực và các chuỗi giá trị kinh tế vận hành như một chỉnh thể thống nhất.
Khi các trục kết nối ấy được hoàn thiện, khoảng cách địa lý sẽ không còn là rào cản phát triển. Hàng hóa từ vùng nguyên liệu phía Tây có thể tiếp cận nhanh hơn với hệ thống cảng biển; trong khi dòng vốn đầu tư, công nghệ, dịch vụ và nguồn nhân lực chất lượng cao từ khu vực duyên hải cũng có điều kiện lan tỏa sâu hơn vào nội địa.
Trong cấu trúc đó, giá trị không còn nằm ở từng công trình riêng lẻ, mà ở khả năng kết nối các lợi thế thành một chỉnh thể phát triển thống nhất. Đó cũng chính là tinh thần của quy hoạch mới: đại ngàn đã thực sự chạm biển xanh.
Bài 2: An Khê trên trục kết nối giao thương