Nhiều điểm nghẽn kéo dài
Theo các nhà khoa học, quá trình xây dựng hệ thống mới cần rút kinh nghiệm từ mô hình 16 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia được đầu tư từ những năm 2000. PGS.TS Nguyễn Thanh Bằng, Phó Giám đốc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, đơn vị quản lý Phòng thí nghiệm trọng điểm Quốc gia về động lực học sông biển (IHRCE) cho biết, điểm hạn chế lớn nhất của mô hình trước đây là thiếu một cơ chế đầu tư đồng bộ, dài hạn.
Nghiên cứu khoa học tại phòng thí nghiệm Trung tâm Nano và năng lượng, Trường Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội).
Phần lớn các phòng thí nghiệm chỉ được đầu tư ban đầu về cơ sở vật chất, trong khi kinh phí vận hành, bảo trì, nâng cấp và phát triển nguồn nhân lực lại phụ thuộc vào từng giai đoạn và từng nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể. “Đầu tư trước đây quá ngắn. Sau khi đầu tư phòng thí nghiệm, việc hỗ trợ phụ thuộc vào từng bối cảnh khác nhau, không tạo thành một gói đầu tư toàn diện. Điều này khiến các phòng thí nghiệm trọng điểm rất khó duy trì hoạt động ổn định”, PGS.TS Nguyễn Thanh Bằng nhận định.
Được thành lập từ năm 2008, IHRCE là một trong những phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia có nhiệm vụ nghiên cứu về sông ngòi, cửa sông, ven biển, thủy lực công trình và giảm nhẹ thiên tai. Tuy nhiên, giống nhiều đơn vị khác, phòng thí nghiệm phải duy trì hoạt động thông qua việc tìm kiếm và thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu được đặt hàng từ các cơ quan, địa phương hoặc doanh nghiệp.
Việc phải liên tục “chạy theo” các nhiệm vụ ngắn hạn khiến các phòng thí nghiệm khó theo đuổi một định hướng nghiên cứu dài hơi hay phát triển một công nghệ chiến lược đến cùng. Vì vậy, các phòng thí nghiệm thế hệ mới cần được đầu tư theo một gói tổng thể, bao gồm vốn đầu tư ban đầu, kinh phí bảo trì, nâng cấp, vận hành và nguồn lực để duy trì những nhiệm vụ nghiên cứu xuyên suốt trong nhiều năm.
Theo đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ, Việt Nam hiện có 16 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia hoạt động trong các lĩnh vực như công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, vật liệu, cơ khí, tự động hóa, hóa học, môi trường và năng lượng. Sau nhiều năm hoạt động, hệ thống này đã có những đóng góp quan trọng cho nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân lực và hỗ trợ doanh nghiệp. Tuy nhiên, các phòng thí nghiệm vẫn chưa thực sự trở thành hạ tầng nghiên cứu chiến lược của quốc gia.
Một trong những nguyên nhân được chỉ ra là quy hoạch đầu tư chưa theo kịp xu thế phát triển công nghệ mới. Phần lớn các phòng thí nghiệm được hình thành dựa trên năng lực sẵn có của đơn vị chủ trì hoặc các lĩnh vực ưu tiên của từng giai đoạn trước đây. Vì vậy, cơ cấu đầu tư chủ yếu tập trung vào các ngành nghiên cứu truyền thống như vật liệu, hóa học, cơ khí, tự động hóa hay công nghệ sinh học.
Trong khi đó, những lĩnh vực đang tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ trên thế giới như bán dẫn, robot thông minh, điện toán hiệu năng cao hay công nghệ lượng tử gần như chưa có sự hiện diện tương xứng trong hệ thống phòng thí nghiệm quốc gia.
Nguồn lực đầu tư cũng còn khá khiêm tốn. Tổng kinh phí xây dựng 16 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia chỉ khoảng 967 tỷ đồng, bình quân chưa tới 60 tỷ đồng mỗi phòng thí nghiệm, thấp hơn đáng kể so với tiêu chuẩn quốc tế.
PGS.TS Lâm Quang Vinh, đại diện Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh cho biết, nhiều phòng thí nghiệm được đầu tư từ năm 2003 hiện đã lạc hậu về công nghệ, trong khi nguồn kinh phí dành cho duy tu, bảo dưỡng hằng năm không đáp ứng yêu cầu thực tế. “Các thiết bị đã hết khấu hao, kỹ thuật lạc hậu nhưng lại thiếu nguồn lực để nâng cấp. Trong khi đó, chu kỳ đổi mới công nghệ hiện nay rất ngắn, chỉ khoảng 3 - 7 năm”, PGS.TS Lâm Quang Vinh cho biết.
Ông cũng chỉ ra nhiều vướng mắc liên quan đến thủ tục tài chính, đấu thầu và mua sắm thiết bị, vật tư nghiên cứu chuyên dụng. Các quy định hiện hành còn phức tạp, kéo dài thời gian thực hiện và ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ nghiên cứu khoa học.
Từ thực tế đó, PGS.TS Lâm Quang Vinh đề xuất chuyển từ cơ chế giao đề tài ngắn hạn sang đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ trực tiếp theo chu kỳ từ 3 - 5 năm đối với các tổ chức nghiên cứu lớn và các nhóm nghiên cứu mạnh. Đây là điều kiện cần thiết để các đơn vị có thể làm chủ công nghệ lõi, đồng thời duy trì và khai thác hiệu quả hạ tầng nghiên cứu đã được đầu tư.
Thiếu cơ chế vận hành và nguồn nhân lực chất lượng cao
Không chỉ đối mặt với khó khăn về nguồn lực đầu tư, nhiều phòng thí nghiệm trọng điểm còn gặp hạn chế về cơ chế vận hành. Theo báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, trong nhiều năm qua, ngân sách nhà nước chủ yếu dành cho việc mua sắm thiết bị. Trong khi đó, kinh phí hoạt động thường xuyên chỉ khoảng 1,137 tỷ đồng mỗi phòng thí nghiệm mỗi năm. Khoản kinh phí này chỉ đủ chi trả điện, nước, vật tư tiêu hao cơ bản, nhưng không đủ để duy trì đội ngũ chuyên gia trình độ cao hoặc triển khai các chương trình nghiên cứu dài hạn.
Bên cạnh đó, đa số phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia chưa có tư cách pháp nhân độc lập, thiếu quyền tự chủ về tài chính, nhân sự và chiến lược phát triển. Nhiều đơn vị vẫn hoạt động như một bộ phận trực thuộc viện nghiên cứu hoặc trường đại học.
PGS.TS Nguyễn Quang Huy, Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm Quốc gia công nghệ enzym và protein cho rằng, hệ thống mới cần có cơ chế linh hoạt hơn về nhân sự. Tốc độ thay đổi của công nghệ hiện nay rất nhanh, đòi hỏi các phòng thí nghiệm có khả năng mở rộng đội ngũ chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu liên ngành. Điều này dẫn tới nghịch lý nhiều nơi được đầu tư thiết bị hiện đại nhưng không đủ nhân lực để khai thác hết công suất.
Các chuyên gia cũng cho hay, việc thu hút nhà khoa học giỏi sẽ rất khó nếu không có cơ chế trả lương theo năng lực và tạo môi trường nghiên cứu cạnh tranh quốc tế. Một trong những vấn đề được nhiều chuyên gia và doanh nghiệp quan tâm là cơ chế hợp tác giữa phòng thí nghiệm trọng điểm với khu vực sản xuất, kinh doanh.
GS.TS Mai Thanh Phong, Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, đơn vị đang quản lý hai phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về vật liệu và điều khiển hệ thống nhận định, đề án mới cần làm rõ cơ chế phối hợp với doanh nghiệp. Hiện nay nhiều hoạt động hợp tác còn gặp vướng mắc liên quan đến quản lý tài sản công, quyền khai thác thiết bị và quyền lợi của doanh nghiệp khi tham gia đầu tư.
Theo các chuyên gia, nếu không tháo gỡ được các rào cản về sở hữu trí tuệ, khai thác tài sản công và thương mại hóa kết quả nghiên cứu thì các phòng thí nghiệm khó có thể trở thành nơi tạo ra công nghệ và sản phẩm chiến lược phục vụ phát triển kinh tế.
Hướng tới mô hình hạ tầng nghiên cứu quốc gia hiện đại
Để giải quyết những tồn tại kéo dài nhiều năm, Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng mô hình phát triển mới cho hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia. Thay vì đầu tư các phòng thí nghiệm đơn lẻ, đề án hướng tới xây dựng một hệ thống hạ tầng nghiên cứu quốc gia đồng bộ, hiện đại, có khả năng kết nối quốc tế và phục vụ trực tiếp cho các công nghệ chiến lược.
Một trong những điểm mới đáng chú ý là việc tổ chức hệ thống theo mô hình ba tầng. Tầng thứ nhất là các trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm quốc gia chiến lược, đóng vai trò dẫn dắt trong các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn.
Tầng thứ hai là hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm theo từng lĩnh vực, đặt tại các trường đại học nghiên cứu mạnh, viện nghiên cứu quốc gia hoặc doanh nghiệp công nghệ lớn. Tầng thứ ba là mạng lưới phòng thí nghiệm vùng và ngành nhằm giải quyết các bài toán phát triển của địa phương, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận công nghệ mới. Mô hình này cho phép chia sẻ thiết bị, dữ liệu, chuyên gia và các nguồn lực nghiên cứu, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư và tránh tình trạng phân tán nguồn lực.
Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định, hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia cần được phát triển như một chương trình hạ tầng nghiên cứu tổng thể, bao gồm hạ tầng, nhân lực và vận hành, thay vì chỉ là dự án mua sắm thiết bị. Cách tiếp cận đầu tư một lần rồi để các đơn vị tự xoay xở vận hành không còn phù hợp trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh như hiện nay.
Do đó, Bộ đang nghiên cứu cơ chế đầu tư theo vòng đời công nghệ, cho phép nâng cấp nhiều lần đối với cùng một phòng thí nghiệm, đồng thời bảo đảm nguồn lực cho hoạt động vận hành, bảo trì và phát triển nhân lực.
Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đề xuất đổi mới mô hình quản trị theo hướng: Nhà nước đầu tư - tổ chức xuất sắc vận hành - doanh nghiệp đồng hành - địa phương cùng tham gia phát triển.
Thứ trưởng Lê Xuân Định khẳng định, việc quản lý hệ thống phòng thí nghiệm sẽ chuyển từ quản trị chi phí sang quản trị kết quả, với các chỉ số đánh giá hiệu quả và mốc tiến độ cụ thể. Các nhà khoa học kỳ vọng rằng với cách tiếp cận mới, hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia sẽ không chỉ là nơi đặt các thiết bị nghiên cứu hiện đại mà thực sự trở thành hạ tầng chiến lược, tạo ra công nghệ lõi, sản phẩm công nghệ cao và nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần hiện thực hóa khát vọng tự chủ công nghệ của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.