Đây được xem là hướng tiếp cận đồng bộ nhằm vừa thích ứng với biến đổi khí hậu, vừa giảm dấu chân các bon trong quá trình đô thị hóa nhanh.
Từ chống ngập đô thị đến quản lý phát thải khí nhà kính
Trong nhiều năm, quá trình đô thị hóa quá nhanh khiến nhiều thành phố lớn của Trung Quốc đối mặt với hàng loạt áp lực môi trường như ngập úng, ô nhiễm nguồn nước, quá tải rác thải và phát thải khí nhà kính gia tăng. Đặc biệt, các trận mưa cực đoan xuất hiện ngày càng thường xuyên dưới tác động của biến đổi khí hậu đã cho thấy hạn chế của mô hình hạ tầng bê tông hóa truyền thống, nơi nước mưa khó thấm xuống đất và hệ thống thoát nước dễ rơi vào quá tải.
Các thành phố được khuyến khích phát triển hồ điều hòa, công viên sinh thái, mái xanh, mặt đường thấm nước. Ảnh: arabiaweather.com
Để giải quyết vấn đề này, từ năm 2015, Trung Quốc bắt đầu triển khai chiến lược “Thành phố bọt biển” tại hàng chục đô thị lớn. Ý tưởng cốt lõi của mô hình là xây dựng đô thị có khả năng “thấm hút, lưu trữ và tái sử dụng nước” giống như một miếng bọt biển khổng lồ. Các thành phố được khuyến khích phát triển hồ điều hòa, công viên sinh thái, mái xanh, mặt đường thấm nước và các vùng trữ nước tự nhiên nhằm giảm áp lực cho hệ thống thoát nước đô thị.
Tuy nhiên, cùng với quá trình triển khai, nhiều địa phương bắt đầu mở rộng mô hình này theo hướng tích hợp quản lý môi trường đô thị tổng thể, trong đó có xử lý chất thải hữu cơ và giảm phát thải khí nhà kính. Theo các chuyên gia môi trường, rác hữu cơ tại đô thị nếu chôn lấp trong điều kiện yếm khí sẽ phát sinh lượng lớn khí mê tan, loại khí nhà kính có khả năng làm nóng toàn cầu mạnh hơn nhiều lần so với CO₂ trong giai đoạn ngắn hạn. Tại các siêu đô thị đông dân, lượng rác hữu cơ phát sinh mỗi ngày rất lớn. Nếu không có hệ thống thu gom và xử lý hiệu quả, nguồn phát thải mê-tan từ bãi rác có thể trở thành áp lực môi trường nghiêm trọng.
Trong mô hình mới, nhiều thành phố Trung Quốc đã triển khai hệ thống thu gom rác hữu cơ riêng biệt, kết hợp với các nhà máy xử lý sinh học và sản xuất khí sinh học quy mô lớn. Một số đô thị còn tích hợp hệ thống xử lý chất thải hữu cơ với mạng lưới thoát nước và xử lý nước thải nhằm xây dựng chu trình tuần hoàn khép kín cho toàn bộ hạ tầng đô thị.
Đây là bước tiến quan trọng trong tư duy quản lý đô thị hiện đại, khi các vấn đề thoát nước, chất thải và phát thải khí nhà kính không còn được xử lý riêng lẻ mà được kết nối trong một hệ sinh thái hạ tầng thống nhất.
Đô thị xanh không chỉ là nhiều cây xanh hơn
Giá trị lớn nhất của mô hình “Thành phố bọt biển” không nằm ở các công trình cảnh quan mà ở khả năng thay đổi cách đô thị vận hành trước các thách thức khí hậu mới. Trong mô hình truyền thống, phần lớn chất thải đô thị được thu gom và xử lý theo hướng tuyến tính: Thu gom - chôn lấp - phát sinh ô nhiễm. Ngược lại, mô hình mới hướng tới tư duy tuần hoàn, nơi chất thải được tái sử dụng làm năng lượng hoặc tài nguyên phục vụ chính đô thị đó.
Mô hình “Thành phố bọt biển” giúp giảm ngập úng trong mùa mưa. Ảnh: scmp.com
Ngoài hiệu quả môi trường, mô hình “Thành phố bọt biển” còn giúp nâng cao khả năng chống chịu biến đổi khí hậu cho đô thị. Hệ thống hồ điều hòa, vùng trữ nước và bề mặt thấm nước giúp giảm nguy cơ ngập úng trong mùa mưa, đồng thời bổ sung nước ngầm trong điều kiện nắng nóng cực đoan. Khi được tích hợp thêm hệ thống xử lý chất thải và năng lượng sinh học, đô thị không chỉ thích ứng với biến đổi khí hậu mà còn chủ động giảm phát thải khí nhà kính ngay từ bên trong cấu trúc vận hành của mình.
Đối với Việt Nam, bài học từ Trung Quốc đặc biệt đáng chú ý trong bối cảnh nhiều đô thị lớn đang đối mặt đồng thời với ngập úng, ô nhiễm môi trường và áp lực phát thải khí nhà kính. Tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh hay nhiều đô thị ven biển, lượng chất thải sinh hoạt tăng nhanh trong khi hạ tầng xử lý vẫn còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, tình trạng bê-tông hóa khiến khả năng thoát nước tự nhiên ngày càng suy giảm.
Các chuyên gia cho rằng Việt Nam có thể nghiên cứu áp dụng một số thành tố của mô hình “Thành phố bọt biển” theo điều kiện thực tế, đặc biệt là việc kết hợp quản lý nước đô thị với xử lý chất thải hữu cơ và phát triển năng lượng sinh học, khi mỗi loại rác thải và mỗi nguồn năng lượng đều được kết nối nhằm giảm thiểu tối đa dấu chân các-bon của thành phố hiện đại.