Nội dung tập huấn tập trung vào các chuyên đề quan trọng như công tác giám sát, phát hiện và báo cáo khi có ca bệnh; cập nhật chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Nipah, các biện pháp phòng chống bệnh do virus Nipah trong cơ sở y tế.
Các cơ sở y tế thực hiện nghiêm nguyên tắc phát hiện sớm, cách ly sớm, phòng hộ đúng.
Tại buổi tập huấn, bác sĩ chuyên khoa 1 Trần Kim Hùng, Phó Trưởng khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP Hồ Chí Minh cho biết, bệnh do virus Nipah có tỷ lệ tử vong cao, dao động từ 40 - 75% tùy ổ dịch và điều kiện chăm sóc, trong khi hiện chưa có thuốc kháng virus đặc hiệu được khẳng định hiệu quả trong thực hành thường quy. Do đó, các cơ sở y tế cần ưu tiên thực hiện nghiêm nguyên tắc phát hiện sớm, cách ly sớm và phòng hộ đúng, coi đây là nền tảng trong công tác phòng, chống dịch bệnh do virus Nipah.
Theo bác sĩ Trần Kim Hùng, trọng tâm là tổ chức phân luồng, sàng lọc và cách ly ngay khi phát hiện ca nghi ngờ; tuân thủ vệ sinh tay theo đúng 5 thời điểm; sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân (PPE) đúng chỉ định, đúng thời điểm. Cùng với đó là quản lý chặt chẽ môi trường, chất thải, dụng cụ y tế và đồ vải tại buồng cách ly theo đúng quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn, ưu tiên dụng cụ dùng một lần và theo dõi, quản lý nguy cơ phơi nhiễm đối với nhân viên y tế và người chăm sóc.
Bên cạnh các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn, mỗi cơ sở y tế cần chủ động xây dựng kế hoạch tiếp nhận và xử trí ca nghi ngờ, xác định rõ khu vực tiếp nhận ban đầu như cấp cứu hoặc khu khám bệnh. Việc nhận diện ca nghi ngờ cần dựa trên triệu chứng lâm sàng kết hợp yếu tố dịch tễ, bao gồm tiền sử đi, đến hoặc trở về từ vùng có ca bệnh, tiếp xúc động vật nguy cơ hoặc ca nghi ngờ. Khi phát hiện trường hợp nghi ngờ, người bệnh phải được đưa ngay vào khu vực cách ly, đánh giá mức độ bệnh và chuyển đến khu hồi sức theo đúng luồng cách ly nếu có diễn tiến nặng.
Bác sĩ chuyên khoa 2 Phan Vĩnh Thọ, Trưởng khoa Nhiễm D, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP Hồ Chí Minh cho biết, trên bản đồ dịch tễ, khu vực có sự hiện diện của dơi Pteropus phân bố rộng tại nhiều quốc gia châu Á.
Việt Nam cũng ghi nhận sự hiện diện của dơi ăn quả (Pteropus), tuy nhiên chưa ghi nhận ca bệnh ở người và chưa có báo cáo chính thức phổ biến về việc phát hiện virus Nipah lưu hành trên dơi tại Việt Nam. “Đây là cơ sở để ngành y tế cảnh giác, tăng cường giám sát nhưng không suy diễn gây hoang mang”, BS.CK2 Phan Vĩnh Thọ nhấn mạnh.
Theo phân tích dịch tễ, việc bệnh có thể bùng phát liên quan đến nhiều thay đổi như phá rừng, biến đổi khí hậu, biến động quần thể vật chủ, cùng với tập quán chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ thực phẩm. Những yếu tố này tạo điều kiện để virus từ ổ chứa tự nhiên “tiếp cận” vật chủ trung gian như heo, ngựa, sau đó lan sang người qua tiếp xúc gần hoặc qua các sản phẩm bị nhiễm.
Dựa trên các tiêu chí về khả năng lây nhiễm, tốc độ lây lan và tình trạng miễn dịch của quần thể, các chuyên gia cho rằng các ổ dịch Nipah thường diễn biến khu trú và đến nay chưa ghi nhận lan rộng thành đại dịch toàn cầu. Thực tiễn các đợt dịch trên thế giới cũng phản ánh đặc điểm này.