Nghị quyết 57-NQ/TW và nông nghiệp xanh - Bài cuối: Dịch chuyển rõ nét từ các trụ cột

Từ các mô hình nông nghiệp thông minh, sản xuất lúa chất lượng cao giảm phát thải, đến phát triển dừa hữu cơ gắn với kinh tế tuần hoàn, có thể thấy nông nghiệp Vĩnh Long đang chuyển dịch rõ nét. Đây được xem là nền tảng quan trọng để địa phương tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng xanh, hiện đại, bền vững, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Trung ương về đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong phát triển kinh tế - xã hội.

Chú thích ảnh
Kênh nội đồng phục vụ nước tưới tiêu cho cánh đồng lúa Cầu Tre, xã Tiểu Cần được lắp đặt hệ thống quan trắc môi trường nước quản lý bằng điện thoại thông minh. 

Nền tảng tái cơ cấu nông nghiệp

Những năm gần đây, tỉnh Vĩnh Long xác định ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số là yếu tố then chốt thúc đẩy hiện đại hóa nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của nông sản. Các tiến bộ về giống cây trồng, vật nuôi, công nghệ sinh học, cơ giới hóa, tự động hóa, quản lý thông minh và truy xuất nguồn gốc được triển khai ngày càng sâu rộng, góp phần giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đến nay, diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao của tỉnh đạt hơn 81.400 ha, chiếm khoảng 10,5% tổng diện tích sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc được tăng cường, tạo nền tảng cho nông sản Vĩnh Long tiếp cận các thị trường xuất khẩu có yêu cầu cao về chất lượng.

Trong lĩnh vực trồng trọt, tỉnh đã cấp gần 900 mã số vùng trồng với tổng diện tích hơn 33.320 ha; trong đó 696 mã số vùng trồng xuất khẩu đủ điều kiện xuất sang các thị trường như Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU, Hàn Quốc, New Zealand… với các mặt hàng chủ lực, như: sầu riêng, chôm chôm, nhãn, bưởi, dừa, khoai lang…. Song song đó, 67 cơ sở đóng gói nông sản đạt chuẩn xuất khẩu đã được cấp mã số, góp phần nâng cao tính minh bạch và năng lực cạnh tranh của nông sản địa phương.

Chuyển đổi số cũng được tỉnh triển khai đồng bộ trong các lĩnh vực chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp và quản lý tài nguyên - môi trường. Nhiều vùng sản xuất đã ứng dụng cảm biến, hệ thống giám sát tự động, phần mềm quản lý đàn vật nuôi... Trong nuôi trồng thủy sản và trồng trọt, các hệ thống quan trắc môi trường nước tự động giúp giảm rủi ro dịch bệnh và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Đặc biệt, 100% chủ thể OCOP của tỉnh đã đưa  sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử, mở rộng kênh tiêu thụ và thúc đẩy kinh tế nông nghiệp số.

Chú thích ảnh
Ứng dụng cài đặt trên điện thoại thông minh để theo dõi môi trường nước, giám sát sâu rầy, quản lý sản xuất…

Cùng với khoa học công nghệ và chuyển đổi số, Vĩnh Long đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng xanh và tuần hoàn - một trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển dài hạn. Ngành nông nghiệp tập trung hướng dẫn nông dân giảm sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật; tăng cường sử dụng phân bón hữu cơ, chế phẩm sinh học; nhân rộng các mô hình tưới tiết kiệm nước, sử dụng năng lượng tái tạo và canh tác carbon thấp.

Kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Long được triển khai theo hướng liên hoàn giữa trồng trọt - chăn nuôi - thủy sản, tận dụng tối đa phụ phẩm như rơm rạ, vỏ trấu, xơ dừa, mụn dừa để sản xuất phân bón hữu cơ, năng lượng sinh học hoặc nguyên liệu đầu vào cho các ngành chế biến. Qua đó, vừa giảm chi phí sản xuất, giảm ô nhiễm môi trường, vừa gia tăng giá trị cho từng khâu trong chuỗi sản xuất.

Đối với 2 ngành hàng chủ lực, về cây lúa, năm 2026, tỉnh Vĩnh Long có hơn 9.200 hộ tại 38 xã, phường đăng ký tham gia Đề án "Phát triển bền vững 1 triệu héc ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030" trên tổng diện tích 8.302 ha. Từ năm 2027, tỉnh đặt mục tiêu mỗi năm tăng thêm hơn 10.000 ha; đến năm 2030, diện tích trồng lúa tham gia Đề án trên địa bàn tỉnh đạt tối thiểu 50.000 ha.

Với cây dừa, Vĩnh Long phấn đấu đến năm 2030, diện tích đạt khoảng 132.000 ha, sản lượng 1,72 triệu tấn/năm; trong đó, dừa hữu cơ chiếm khoảng 50% diện tích, gắn với doanh nghiệp thu mua và chế biến, tập trung phát triển ở các xã vùng ngọt và ngọt hoá của tỉnh.

Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long Lê Văn Đông, không chỉ ở ngành hàng lúa gạo, tỉnh cũng đang hướng đến khai thác tiềm năng tín chỉ carbon từ cây dừa. Kết quả nghiên cứu của Đại học Cần Thơ cho thấy, với cây dừa trồng hơn 10 năm, 1 ha dừa mỗi năm có khả năng hấp thụ được 70 - 75 tấn CO2. Đây là cơ sở quan trọng để tỉnh nghiên cứu, thí điểm các mô hình kinh tế carbon, góp phần đa dạng hóa nguồn thu và nâng cao giá trị ngành hàng dừa trong tương lai.

Phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn

Chú thích ảnh
Kênh nội đồng phục vụ nước tưới tiêu cho cánh đồng lúa Cầu Tre, xã Tiểu Cần được lắp đặt hệ thống quan trắc môi trường nước quản lý bằng điện thoại thông minh. 

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long Châu Văn Hòa khẳng định, phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn gắn với khoa học- công nghệ và chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Đây không chỉ là định hướng phát triển của riêng ngành nông nghiệp mà còn là một trong những trụ cột quan trọng để tỉnh Vĩnh Long thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững theo các nghị quyết của Trung ương.

Tỉnh sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân tham gia ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và các mô hình sản xuất thân thiện môi trường; đồng thời triển khai Đề án chuyển đổi số ngành Nông nghiệp và Môi trường đến năm 2030, định hướng đến năm 2050. Mục tiêu đến năm 2030, 15 - 20% diện tích sản xuất nông nghiệp của tỉnh được ứng dụng công nghệ cao và công nghệ số; hình thành các vùng sản xuất thông minh, có khả năng kết nối dữ liệu và truy xuất nguồn gốc xuyên suốt chuỗi giá trị.

Thời gian tới, Vĩnh Long tập trung phát triển các vùng sản xuất hàng hóa lớn, chất lượng cao đối với các cây trồng, vật nuôi chủ lực như lúa, dừa; đẩy mạnh chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị khép kín. Qua đó, từng bước chuyển từ sản xuất nông nghiệp thuần túy sang phát triển kinh tế nông nghiệp đa ngành, tích hợp giữa sản xuất - chế biến - thương mại - dịch vụ - du lịch nông thôn.

Tỉnh xác định thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới, nhất là nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao khoa học - công nghệ, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế chia sẻ là nhiệm vụ xuyên suốt trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Trong 5 năm qua, địa phương đã triển khai hơn 50 đề tài, dự án khoa học - công nghệ, tổ chức đào tạo, tập huấn và tư vấn kỹ thuật cho hàng chục nghìn lượt nông dân, xây dựng và nhân rộng hơn 200 mô hình canh tác thông minh, nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ và theo tiêu chuẩn GAP.

Các mô hình kinh tế chia sẻ trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh hiện nay đã từng bước hình thành thông qua việc dùng chung máy móc, thiết bị, hạ tầng sản xuất; chia sẻ dữ liệu canh tác, logistics và nền tảng tiêu thụ, giúp giảm chi phí đầu tư, nâng cao hiệu quả liên kết và tăng khả năng tiếp cận thị trường cho nông dân, hợp tác xã.

Chú thích ảnh
Ruộng lúa tham gia Đề án của Hợp tác xã nông nghiệp Phát Tài, xã Châu thành được hỗ trợ lắp đặt hệ thống giám sát khí thải methane. 

Quán triệt sâu sắc tinh thần các nghị quyết của Trung ương về phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh, tỉnh Vĩnh Long kiên định lấy khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn làm trụ cột tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

Từ lợi thế các ngành hàng chủ lực như lúa gạo và dừa, địa phương từng bước phát triển thâm các ngành hàng chủ lực khác và hình thành các chuỗi giá trị xanh, giảm phát thải, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh.

Nghị quyết 57-NQ/TW mở ra dư địa và động lực mới để nông nghiệp Vĩnh Long chuyển mình theo hướng hiện đại, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc hiện thực hóa nghị quyết bằng những mô hình cụ thể, hiệu quả kinh tế cao là “đòn bẩy” để tỉnh Vĩnh Long xây dựng và phát triển bền vững nền kinh tế nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và hội nhập sâu vào kinh tế quốc tế.

Bài và ảnh: Thanh Hòa (TTXVN)
Nghị quyết 57-NQ/TW và nông nghiệp xanh - Bài 2: Sản xuất hữu cơ - hướng đi cho thủ phủ ngành dừa
Nghị quyết 57-NQ/TW và nông nghiệp xanh - Bài 2: Sản xuất hữu cơ - hướng đi cho thủ phủ ngành dừa

Trong xu thế phát triển nông nghiệp bền vững gắn với kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, sản xuất hữu cơ trở thành hướng đi tất yếu của nhiều địa phương.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN