Áp lực tâm lý không chừa nhân viên y tế
Những áp lực đặc thù của nghề y đang khiến sức khỏe tâm thần của đội ngũ nhân viên y tế trở thành vấn đề đáng quan ngại. Sau nhiều năm chịu tác động của đại dịch COVID-19 và áp lực công việc kéo dài, tình trạng kiệt sức nghề nghiệp, lo âu và trầm cảm vẫn hiện hữu ở nhiều cơ sở y tế, đặt ra yêu cầu quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe tinh thần của lực lượng tuyến đầu chăm sóc người bệnh.
Áp lực công việc và những thay đổi xã hội là một trong những nguyên nhân khiến cho các rối loạn tâm thần gia tăng. Ảnh: Minh hoạ
Đề cập đến vấn đề này, TS.BS Nguyễn Văn Vĩnh Châu, Phó Giám đốc Sở Y tế TP Hồ Chí Minh cho biết, các nghiên cứu quốc tế sau đại dịch COVID-19 cho thấy khủng hoảng sức khỏe tâm thần của nhân viên y tế đã diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Tỷ lệ kiệt sức nghề nghiệp dao động từ 40 - 55%, có nơi lên tới 66,5%; riêng một số khảo sát tại Trung Quốc ghi nhận tỷ lệ này lên tới 87,8%.
Tại Việt Nam, mặc dù chưa có nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc, các khảo sát cũng cho thấy xu hướng tương tự khi tỷ lệ kiệt sức nghề nghiệp của nhân viên y tế dao động từ 30-40% đến 58%, trong khi tỷ lệ trầm cảm và lo âu khoảng 20 - 50%.
Theo TS.BS Nguyễn Văn Vĩnh Châu, đặc thù nghề y đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, sự chính xác và tập trung trong môi trường làm việc nhiều áp lực. Khối lượng công việc lớn, tình trạng thiếu nhân lực, các ca trực kéo dài cùng việc thường xuyên tiếp xúc với bệnh tật, thương tích và tử vong, đặc biệt tại các khoa hồi sức cấp cứu và hồi sức tích cực (ICU), khiến nhiều nhân viên y tế phải đối mặt với những sang chấn tâm lý kéo dài.
"Nhiều nhân viên y tế có cảm giác bản thân đã quen với áp lực nghề nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế, mỗi lần tiếp xúc với một ca tử vong đều để lại những sang chấn tâm lý nhất định đối với mỗi cá nhân", TS.BS Nguyễn Văn Vĩnh Châu chia sẻ.
Không chỉ riêng nhân viên y tế, các chuyên gia nhận định sức khỏe tâm thần đang trở thành một trong những thách thức lớn của y tế hiện đại. PGS.TS.BS Nguyễn Thị Ngọc Dung, Chủ tịch Hội Y học TP Hồ Chí Minh cho biết, trong bối cảnh xã hội có nhiều biến động, áp lực từ công việc, cuộc sống cùng những thay đổi nhanh chóng về lối sống đã làm gia tăng gánh nặng bệnh tật về tâm thần.
Theo PGS.TS.BS Nguyễn Thị Ngọc Dung, nếu không được phát hiện và can thiệp kịp thời, các rối loạn tâm thần sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, đồng thời làm gia tăng gánh nặng cho hệ thống y tế và sự phát triển kinh tế - xã hội.
Làm rõ hơn bức tranh dịch tễ, BS.CKII Chu Thị Ngọc Dung, Trưởng khoa Tâm lý y học, Bệnh viện Tâm thần TP Hồ Chí Minh cho biết, các rối loạn lo âu và trầm cảm đang gia tăng, trong khi độ tuổi mắc bệnh ngày càng trẻ hóa ở trẻ em và thanh thiếu niên. Song song đó, quá trình già hóa dân số cũng kéo theo sự gia tăng các trường hợp sa sút trí tuệ và trầm cảm ở người cao tuổi.
Chỉ tính năm 2022, đã có 21,7% thanh thiếu niên Việt Nam gặp các vấn đề về sức khỏe tâm thần, trong đó lo âu chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là trầm cảm. Nam giới có tỷ lệ rối loạn hành vi cao hơn, trong khi nữ giới có tỷ lệ các vấn đề cảm xúc như lo âu và trầm cảm cao hơn.
"Các rối loạn tâm thần thường gặp hiện nay gồm rối loạn lo âu lan tỏa, trầm cảm, rối loạn tăng động giảm chú ý, rối loạn thích nghi và rối loạn lưỡng cực", BS.CKII Chu Thị Ngọc Dung cho biết thêm.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 1/4 dân số sẽ gặp các vấn đề về sức khỏe tâm thần trong suốt cuộc đời và mỗi năm có khoảng 800.000 trường hợp tử vong do tự sát. Đặc biệt, đại dịch COVID-19 là nguyên nhân làm gia tăng các rối loạn lo âu, stress sau sang chấn, trầm cảm, các bệnh lý tâm thần ở trẻ em và thanh thiếu niên, đồng thời làm tăng các rối loạn liên quan đến áp lực công việc và lạm dụng chất.
Tại Việt Nam, báo cáo của World Bank năm 2024 cho thấy, khoảng 15% dân số mắc ít nhất một trong 10 rối loạn tâm thần phổ biến. Tỷ lệ lạm dụng chất khoảng 4 - 5%; trầm cảm chiếm 2,8%; lo âu chiếm 2,6%; tâm thần phân liệt chiếm 0,4%; tỷ lệ tự sát năm 2015 là 5,87 trường hợp trên 100.000 dân.
BS.CKII Chu Thị Ngọc Dung dẫn chứng thêm, một nghiên cứu trên 611 hộ gia đình với 1.528 người trưởng thành ghi nhận, khoảng 22% người tham gia có triệu chứng rối loạn tâm thần; trong đó 14 - 20% mắc các rối loạn tâm thần thường gặp và 8,6% mắc các rối loạn tâm thần nặng. Các yếu tố nguy cơ gồm nữ giới, tuổi cao, trình độ học vấn thấp, đồng thời liên quan đến nghèo đói, lạm dụng rượu, bạo lực gia đình và thiếu hỗ trợ xã hội.
Ngoài ra, áp lực từ gia đình, công việc và xã hội; khủng hoảng kinh tế, dịch bệnh, thiên tai; sự tiếp cận dễ dàng với các chất gây nghiện cùng tác động của mạng xã hội làm gia tăng sự so sánh, giảm tự tin, tăng lo âu, trầm cảm, cảm giác cô đơn và giảm giao tiếp trực tiếp. Đây là những yếu tố đang góp phần làm gia tăng các rối loạn tâm thần trong cộng đồng.
Chuyển từ điều trị triệu chứng sang toàn diện
Xu hướng điều trị các rối loạn tâm thần hiện nay không chỉ dừng ở việc kiểm soát triệu chứng mà đang chuyển sang mô hình chăm sóc toàn diện theo tiếp cận sinh học - tâm lý - xã hội. BS.CKII Chu Thị Ngọc Dung cho biết, người bệnh được điều trị bằng sự kết hợp giữa thuốc, tâm lý trị liệu cùng sự đồng hành của gia đình và cộng đồng, hướng tới mục tiêu phục hồi chức năng, nâng cao chất lượng cuộc sống và tái hòa nhập xã hội.
Cùng với các phương pháp điều trị truyền thống, nhiều kỹ thuật và liệu pháp mới đang được ứng dụng nhằm nâng cao hiệu quả điều trị như kích thích từ trường xuyên sọ, sốc điện có gây mê, công nghệ thực tế ảo, cùng các liệu pháp hỗ trợ thông qua lao động, nghệ thuật, âm nhạc và thể thao.
Mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần từ xa cũng từng bước được triển khai thông qua tư vấn trực tuyến và các ứng dụng tích hợp trí tuệ nhân tạo, hỗ trợ sàng lọc, theo dõi và phát hiện sớm các nguy cơ rối loạn tâm thần.
Những năm gần đây, Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị các rối loạn tâm thần thông qua việc sử dụng các thuốc thế hệ mới, tăng điều trị ngoại trú, giảm điều trị nội trú và phát triển tâm thần học cá thể hóa, các liệu pháp tâm lý dựa trên bằng chứng. Cùng với đó, mạng lưới chăm sóc sức khỏe tâm thần tiếp tục được mở rộng đến các trạm, trung tâm y tế; công tác đào tạo, thu hút nguồn nhân lực được tăng cường, đồng thời đẩy mạnh truyền thông, giáo dục sức khỏe tâm thần nhằm giảm kỳ thị đối với người mắc bệnh.
Theo PGS.TS.BS Nguyễn Thị Ngọc Dung, các rối loạn tâm thần trong thực tế lâm sàng không chỉ biểu hiện bằng các triệu chứng tinh thần mà còn có thể xuất hiện dưới nhiều triệu chứng thực thể. Vì vậy, việc trang bị kiến thức về sức khỏe tâm thần cần trở thành kỹ năng thiết yếu đối với tất cả nhân viên y tế, từ bác sĩ, điều dưỡng đến dược sĩ, nha sĩ.
Chủ tịch Hội Y học TP Hồ Chí Minh cũng cho biết, việc ngày càng có nhiều chuyên khoa cùng đồng hành với chuyên khoa tâm thần trong các hoạt động khoa học và chuyên môn đã khẳng định nhận thức chung rằng, chăm sóc sức khỏe tâm thần không phải là trách nhiệm riêng của bác sĩ tâm thần mà là trách nhiệm của tất cả những người thầy thuốc.
"Ngành y tế cần chuyển từ tư duy điều trị khi bệnh đã biểu hiện rõ sang chủ động phát hiện sớm, tư vấn và hỗ trợ tâm lý kịp thời nhằm ngăn ngừa các rối loạn tiến triển thành bệnh mạn tính. Đồng thời, cần chuyển từ điều trị triệu chứng sang chăm sóc toàn diện, lấy người bệnh làm trung tâm, quan tâm đồng thời sức khỏe thể chất và tinh thần, qua đó nâng cao hiệu quả bảo vệ sức khỏe tâm thần cho cộng đồng", PGS.TS.BS Nguyễn Thị Ngọc Dung nhấn mạnh.
TS.BS Nguyễn Văn Vĩnh Châu, Phó Giám đốc Sở Y tế TP Hồ Chí Minh cho biết, sau đại dịch COVID-19, vào tháng 7/2022, Sở Y tế TP Hồ Chí Minh đã triển khai mô hình cấp cứu trầm cảm và mô hình đã phát huy hiệu quả và vẫn đang được triển khai; đồng thời, tham mưu UBND thành phố ban hành kế hoạch chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người dân TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2023 - 2025 và những năm tiếp theo.