Tỷ lệ hút thuốc lá vẫn cao, cần những biện pháp quản lý mạnh hơn

Sau 13 năm thực thi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong giảm tỷ lệ hút thuốc và phơi nhiễm với khói thuốc.

 Tuy nhiên, với khoảng 15,8 triệu người hút thuốc, hơn 100.000 người tử vong mỗi năm liên quan đến hút thuốc và gánh nặng kinh tế tương đương 1,14% GDP năm 2022, cùng với sự xuất hiện của thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và những phương thức mới đưa các sản phẩm này trở lại thị trường đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục có những thay đổi mạnh mẽ về chính sách, tăng hiệu quả kiểm soát và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Thành quả đáng ghi nhận nhưng tốc độ giảm còn chậm

Theo số liệu STEPS năm 2021 (Bộ Y tế và Tổ chức Y tế Thế giới thực hiện), tỷ lệ hút thuốc ở người trưởng thành Việt Nam là 20,8%; trong đó, tỷ lệ ở nam giới là 41,1%, trong khi nữ giới chỉ 0,6%. Ước tính hiện có khoảng 15,8 triệu người hút thuốc. So với một thập kỷ trước, tỷ lệ hút thuốc đã giảm từ 23,8% năm 2010 xuống 20,8% năm 2021. Tỷ lệ hút thuốc ở thanh thiếu niên cũng giảm đáng kể, từ 5,36% năm 2013 xuống 2,78% năm 2019 ở nhóm 13-17 tuổi. Những con số này cho thấy những nỗ lực trong phòng, chống tác hại của thuốc lá đã đem lại kết quả bước đầu. Tuy nhiên, tốc độ giảm tỷ lệ hút thuốc vẫn còn chậm, Tiến sĩ Hà Anh Đức, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) đánh giá.

Việt Nam vẫn là một trong 15 quốc gia có tỷ lệ nam giới trưởng thành hút thuốc cao nhất thế giới và đứng thứ 3 trong khu vực ASEAN. Điều đó cho thấy "cuộc chiến" chống tác hại của thuốc lá vẫn còn dài và cần những chính sách mạnh hơn, phù hợp hơn với thực tiễn.

Hút thuốc lá gây ra nhiều bệnh mạn tính, bệnh nan y và là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, nhưng hoàn toàn có thể phòng tránh được. Theo ước tính từ Nghiên cứu gánh nặng bệnh tật toàn cầu mới nhất được WHO trích dẫn, hút thuốc lá đã gây tử vong cho hơn 100.000 người mỗi năm tại Việt Nam. Trong đó, 84.500 người tử vong do hút thuốc chủ động và 18.800 người tử vong do phơi nhiễm với khói thuốc thụ động. Những con số này cho thấy tác hại của thuốc lá không dừng lại ở người trực tiếp sử dụng. Khói thuốc còn tác động tới những người xung quanh, trong đó có những người không lựa chọn hút thuốc. Do vậy, phòng, chống tác hại của thuốc lá không chỉ là câu chuyện thay đổi hành vi của người hút mà còn là trách nhiệm bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Tác hại của thuốc lá còn được phản ánh qua những tổn thất kinh tế đối với cá nhân, gia đình, xã hội và môi trường. Ước tính tổng chi phí y tế cho các bệnh do thuốc lá gây ra lên tới 92,4 nghìn tỷ đồng năm 2019 và 108,7 nghìn tỷ đồng năm 2022. Đáng chú ý, gánh nặng kinh tế do hút thuốc lá gây ra đối với sức khỏe chiếm 1,14% GDP năm 2022. Như vậy, giảm hút thuốc không chỉ có ý nghĩa trong bảo vệ sức khỏe mà còn góp phần giảm chi phí y tế, giảm tổn thất đối với hộ gia đình và xã hội, qua đó phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.

Cần những chính sách mạnh mẽ để đạt mục tiêu

Trước thực tế tỷ lệ hút thuốc vẫn cao và tốc độ giảm còn chậm, đối với thuốc lá điếu, Việt Nam cần tiếp tục có những thay đổi về chính sách nhằm giảm mạnh tỷ lệ người hút thuốc. Theo mục tiêu tại Quyết định 568/QĐ-TTg, đến năm 2030, tỷ lệ sử dụng thuốc lá ở nam giới từ 15 tuổi trở lên phải xuống dưới 36%, ở nữ giới từ 15 tuổi trở lên xuống dưới 1%. Đồng thời, tỷ lệ tiếp xúc thụ động với khói thuốc cần giảm xuống dưới 25% tại nơi làm việc, dưới 65% tại nhà hàng, dưới 70% tại quán bar, cà phê và dưới 50% tại khách sạn.

Để đạt được những mục tiêu này, việc tiếp tục duy trì các biện pháp hiện có là cần thiết, nhưng chưa đủ. Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn trong nước cho thấy cần tiếp tục nghiên cứu những biện pháp quản lý mạnh hơn. Một trong những đề xuất đáng chú ý trong dự thảo Luật là cấm mọi hình thức trưng bày sản phẩm thuốc lá tại các điểm bán.

Luật Quảng cáo và Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá đã quy định thuốc lá là sản phẩm bị cấm quảng cáo. Công ước Khung về Kiểm soát thuốc lá yêu cầu các quốc gia thành viên cấm toàn diện quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá, trong đó có việc trưng bày tại điểm bán. Thực tế, trưng bày tại điểm bán không đơn thuần là hoạt động đưa sản phẩm ra trước người mua. Các sản phẩm được bố trí trên kệ, kết hợp với vật dụng hỗ trợ, hệ thống đèn chiếu sáng... có thể trở thành một kênh quảng bá. Tính đến cuối năm 2024, trên thế giới đã có 59 quốc gia ban hành quy định cấm trưng bày thuốc lá tại điểm bán. Trong khu vực ASEAN, 5 quốc gia gồm Thái Lan, Brunei, Singapore, Lào và Malaysia đã cấm trưng bày thuốc lá.

Từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn trong nước, dự thảo Luật đề xuất cấm mọi hình thức trưng bày sản phẩm thuốc lá tại các điểm bán, nhằm hạn chế tình trạng hút thuốc lá mới và thúc đẩy người hút cai nghiện thuốc lá. Đây là một trong những thay đổi đáng chú ý, không chỉ kiểm soát việc quảng cáo trực tiếp mà còn kiểm soát những hình thức có khả năng làm cho sản phẩm thuốc lá hiện diện thường xuyên trước mắt người tiêu dùng.

Theo Tiến sĩ Hà Anh Đức, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế): Một yêu cầu khác được đặt ra trong quá trình sửa đổi Luật là phải bảo đảm chính sách được triển khai đồng đều giữa các địa phương, đặc biệt ở những khu vực còn nhiều khó khăn. Thực tế triển khai Luật giữa các địa phương còn có sự khác nhau. Tại nhiều tỉnh miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, công tác tuyên truyền, kiểm tra, giám sát còn mang tính hình thức, thiếu nguồn lực và chưa được duy trì thường xuyên. Nguyên nhân khách quan bao gồm hạn chế về hạ tầng thông tin, rào cản ngôn ngữ, phong tục, tập quán và năng lực của đội ngũ cán bộ cơ sở. Những yếu tố này làm cho hiệu quả tiếp cận và thụ hưởng chính sách của người dân tại các khu vực này còn thấp hơn so với những khu vực khác.

Do đó, dự thảo Luật đề xuất bổ sung nguyên tắc phòng, chống tác hại của thuốc lá nhằm bảo đảm chính sách dân tộc và bảo vệ các đối tượng dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số. Đây cũng là sự cụ thể hóa quan điểm xây dựng Luật theo hướng dựa trên bằng chứng khoa học, phù hợp thực tiễn Việt Nam và chuẩn mực quốc tế; chủ động phòng ngừa để bảo vệ sức khỏe cộng đồng, đồng thời bảo đảm bình đẳng giới, chính sách dân tộc và ưu tiên bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương.

Mục đích của việc sửa đổi Luật là hoàn thiện khung pháp lý về phòng, chống tác hại của thuốc lá, bảo đảm thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng, thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật và phù hợp với bối cảnh thực tiễn. Quan trọng hơn, chính sách hướng tới bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; giảm tỷ lệ tử vong, giảm gánh nặng bệnh tật, góp phần giảm chi phí y tế, bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Dự thảo Luật được xây dựng trên ba quan điểm lớn: thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng; bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ, thống nhất và khả thi của hệ thống pháp luật, phù hợp Công ước Khung về Kiểm soát thuốc lá; đồng thời dựa trên bằng chứng khoa học để chủ động phòng ngừa, bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Dự kiến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá có hiệu lực từ ngày 1/7/2027.

Lê Hảo - Bích Thủy (TTXVN)
Đổi mới chính sách, tăng hiệu quả kiểm soát thuốc lá
Đổi mới chính sách, tăng hiệu quả kiểm soát thuốc lá

Sau 13 năm thực thi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trong giảm tỷ lệ hút thuốc và phơi nhiễm với khói thuốc.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN