Bà Trần Thị Vinh chia sẻ với báo chí về ký ức những ngày đi B.
“Già rồi, nếu mình không ra thì người ta cũng có thể gửi cho mình. Nhưng mình muốn đọc bản gốc xem nó có cái gì. 61 năm rồi, làm sao nhớ hết được”, bà nói.
Nhìn tấm chứng minh nhân dân được chụp từ năm 1960, bản lý lịch, lệnh điều động, giấy tờ liên quan đến lương thực và những nhận xét của tổ chức, dòng chảy ký ức ùa về trong bà, tất cả như mới hôm qua. Bà không còn nhớ mình đã chụp tấm ảnh chứng minh nhân dân ấy từ khi nào. Những người trẻ nhìn tấm ảnh rồi trầm trồ: “Hồi ý bà trẻ, đẹp như diễn viên!”.
Bà cười: “Diễn viên thì không tới, nhưng quả là cũng hơi ngạc nhiên là ngày đó mình cũng đẹp đấy chứ”. “Tuổi trẻ ai cũng đẹp hết”.
“Tôi không phải suy nghĩ gì cả”
Bà Trần Thị Vinh sinh năm 1941, quê gốc Bắc Ninh, hiện sống tại TP Hồ Chí Minh. Năm 1965, khi 24 tuổi, bà lên đường đi B. Trước đó, bà đã có một hành trình học tập đặc biệt. Là con liệt sĩ, từ năm 1952 đến năm 1958, bà được Nhà nước cho sang học trường thiếu nhi ở Trung Quốc. Trở về nước, bà tiếp tục học tại Hà Nội và năm 1962 tốt nghiệp đại học ngành Toán - Lý, trước thời hạn hai năm, rồi về dạy học tại Trường cấp 3 Từ Sơn (Bắc Ninh).
Tháng 3/1965, bà được Trường Đại học Sư phạm Hà Nội gọi về học lớp bồi dưỡng Toán trong sáu tháng. Đây là thời gian bà được học với những giáo sư, nhà khoa học hàng đầu như Giáo sư Lê Văn Thiêm, Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, Giáo sư Hoàng Thị Xuân Sính. Sau khóa học, bà có dự định học ngoại ngữ để sang Liên Xô học chương trình sau đại học.
“Thế nhưng lúc đó có phong phanh là người ta lựa chọn đi B”, bà kể.
Rồi bà nhận được lệnh điều động của Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Đỗ Đức Uyên. Người ra quyết định hỏi bà có cần suy nghĩ thêm không.
“Tôi không phải suy nghĩ gì cả. Tôi sẵn sàng”, bà Vinh nhớ lại.
Sau 61 năm, bà Trần Thị Vinh vẫn nhớ rõ lý do khiến mình không cần cân nhắc: “Tôi là một thanh niên, lại là con của một liệt sĩ. Tôi được Đảng, Nhà nước cho đi ăn học từ lúc mới 10 tuổi bên Trung Quốc. Suốt cả thời gian học hành đều có sự hỗ trợ của Đảng, Nhà nước. Cho nên bây giờ, khi Đảng và Nhà nước yêu cầu, tôi sẵn sàng đáp ứng”.
Với bà, được lựa chọn đi B khi ấy còn là một niềm kiêu hãnh, một niềm vinh dự “vì mình đã được lựa chọn trong khi người khác thì chưa có cơ hội”. Vì thế, bà không băn khoăn và sẵn sàng lên đường bất kể lúc nào.
Bà Vinh từng đi qua Trường Sơn khi còn nhỏ. Năm 1946, khi mới 5 tuổi, bà cùng hai người em được giao liên cõng trên vai từ miền Nam ra Bắc. Chuyến đi kéo dài khoảng sáu tháng.
Nhiều năm sau, trước ngày cô con gái 24 tuổi lên đường đi B, người mẹ nhắc lại chuyến đi năm xưa:“Hồi nhỏ con đã vượt Trường Sơn một lần, cũng sáu tháng. Nhưng lúc đó con vượt Trường Sơn trên vai người khác. Rồi bây giờ, lần này con phải đi bằng đôi chân của con. Con đi được không?”.
Biết mẹ lo lắng cho người con gái nhỏ bé, gầy gò, bà trấn an rằng con đã có ba tháng tập luyện, hành quân, cõng 30kg gạch trên lưng.
Tháng 9/1965, bà rời miền Bắc vào chiến trường, để lại một người mẹ già và ba người em đang đi học. Trước ngày lên đường, những vật dụng cá nhân được gửi về gia đình, còn hồ sơ lý lịch được Ủy ban Thống nhất của Chính phủ quản lý.
Hồ sơ, tài liệu của bà Trần Thị Vinh được công bố tại Trưng bày tài liệu và hồ sơ cán bộ đi B với chủ đề “Thanh xuân gửi lại” do Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước (Bộ Nội vụ) tổ chức. Ảnh: Chu Thanh Vân/TTXVN
Trong số những giấy tờ liên quan đến hành trình đi B, bà còn giữ được một tờ “Giấy chứng minh đi đường”. Bà cho biết, trong đoàn hơn 200 người lên đường năm ấy, có thể chỉ mình bà còn giữ được giấy tờ này.
Vào chiến trường, công việc của bà thay đổi theo yêu cầu nhiệm vụ. Ban đầu là cán bộ giáo dục, nhưng do điều kiện chiến trường không thể xây dựng các trường đại học, cao đẳng như dự kiến, bà cùng 11 người khác được điều động sang công tác trong quân đội.
Từ một giáo viên Toán, bà trở thành phóng viên Báo Quân giải phóng, công tác tại Cục Chính trị, Bộ Chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam. Ba năm đầu, bà làm phóng viên thường trú tại Cục Giao bưu; sau đó làm việc tại nhà in Báo Quân giải phóng, tham gia biên tập. Trong chiến tranh, bà còn được điều động làm nhiều công việc khác, trong đó có thời gian dạy học tại trường văn hóa của Bộ Tư lệnh Miền.
Những đứa con sinh giữa chiến trường
Mười năm ở chiến trường, từ năm 1965 đến năm 1975, bà đã trải qua những năm tháng ác liệt nhất của cuộc chiến tranh. Có lần, bà bị áp xe do tiêm thuốc sốt rét, phải nằm trong bệnh xá sáu tháng. Hai lần bà bị chất độc hóa học rải xuống, tóc rụng hết, mắt mờ đi, tưởng bị mù.
Nhắc lại những chuyện ấy, bà vẫn giữ giọng kể bình thản: “Giữa bom đạn mà 10 năm trời tôi không biết tại sao mà nó không xiên vào tôi tí nào. Còn sống đến ngày hôm nay là may hơn là khôn”.
Trong những năm ở chiến trường, bà sinh hai người con gái, một người năm 1968 tại Tây Ninh, một người năm 1973 tại Lộc Ninh. Mỗi lần sinh con, điều bà lo sợ nhất là ảnh hưởng của chất độc hóa học, nên đều hỏi bác sĩ: “Kiểm tra xem đầu, cổ, chân, tay, mặt mũi nó có thiếu cái gì không, có dư cái gì không, có vẹo vọ gì không”.
Nhìn lại tuổi trẻ của mình, bà không cho rằng đó là những năm tháng đã mất đi.
“Người nào cũng chỉ có một thanh xuân thôi. Thanh xuân của ai cũng là tươi đẹp. Đối với những người như chúng tôi, vào chiến trường giữa tuổi thanh xuân, tôi cho đó là một nét đẹp riêng biệt, độc đáo”, bà nói.
Bà Trần Thị Vinh ngắm những hồ sơ, tài liệu của mình gửi lại tại Ủy ban Thống nhất của Chính phủ trước ngày đi B, nay được chuyển cho Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước bảo quản.
Theo bà Vinh, đó là một thanh xuân không thể lặp lại và cũng không có gì phải hối tiếc. Những người đi B khi ấy phải trải qua nhiều khó khăn, gian khổ, mất mát trong hành quân cũng như công tác. Nhưng điều còn lại sau những năm tháng chiến tranh là sự hài lòng vì thanh xuân của mình đã sống có ý nghĩa, “xứng đáng với bản thân mình và xứng đáng với đất nước, với Tổ quốc, với nhân dân, với đồng đội”.
61 năm sau ngày lên đường, bà Vinh trở lại Hà Nội để tìm lại những dấu tích của tuổi trẻ. Bà đọc lại những dòng chữ trong hồ sơ của mình, nhìn lại tấm ảnh cô gái năm 1960, nhớ về người mẹ già và ba người em ở lại hậu phương, nhớ về những năm tháng chiến trường và những người đồng đội.
Với người khác, những hồ sơ ấy có thể chỉ là những trang giấy cũ, nhưng với bà, mỗi trang giấy đều gắn với một đoạn đời. Điều đầu tiên bà nhớ tới khi nhìn lại hồ sơ cán bộ đi B là những người đồng đội, bởi nhiều người trong số họ đã không còn cơ hội nhìn lại quá khứ.
Hơn 72.000 hồ sơ, kỷ vật của cán bộ đi B đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III (Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước, Bộ Nội vụ) không chỉ là những giấy tờ cá nhân mà là những tài liệu ghi lại quá khứ của một thế hệ đã dấn thân vào cuộc chiến vì sự nghiệp của Tổ quốc. Mỗi bộ hồ sơ là một câu chuyện về một con người đã từng sống, học tập, làm việc và chiến đấu trong một giai đoạn đặc biệt của lịch sử.
Có lẽ vì vậy, ở tuổi 85, bà Vinh đã đi một chặng đường dài từ TP Hồ Chí Minh ra Hà Nội để gặp lại tuổi 24 của mình qua những trang hồ sơ đã được gìn giữ suốt hơn sáu thập kỷ.
Kể lại câu chuyện của mình cho những người trẻ, bà Vinh không nói về sự hy sinh như một điều gì quá lớn lao. Bà chỉ nói về một thời tuổi trẻ mà mình đã sống, đã lựa chọn và đã đi qua bằng một câu nói giản dị: “Tôi không phải suy nghĩ gì cả. Tôi sẵn sàng”.
Đó cũng là điều mà những hồ sơ cán bộ đi B đang lặng lẽ kể lại với thế hệ trẻ hôm nay về một thế hệ đã gửi lại tuổi xuân cho đất nước. Không phải qua những con số khô cứng, mà qua những tấm ảnh, những dòng chữ, những tờ giấy đã ngả màu thời gian. Và qua ký ức của những người từng ở tuổi đôi mươi, từng có những dự định riêng, nhưng khi Tổ quốc cần, họ đã lên đường và không tiếc tuổi xuân.