Hội thảo là dịp để các nhà nghiên cứu, học giả nhìn nhận lại vai trò, tầm ảnh hưởng của chí sĩ Phan Châu Trinh, đồng thời gợi mở những suy ngẫm về các vấn đề căn bản của xã hội Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.
PGS.TS Lưu Văn Quyết, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG TP Hồ Chí Minh) tặng hoa TS. Trần Đức Cảnh, Quyền Viện trưởng Viện Phan Châu Trinh.
Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS Lưu Văn Quyết, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, cho rằng điểm bền vững trong tư tưởng của Phan Châu Trinh nằm ở việc đặt con người và tri thức vào vị trí trung tâm của tiến trình phát triển.
Theo PGS.TS Lưu Văn Quyết, những luận điểm như “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” không chỉ phản ánh trăn trở về giáo dục, ý thức công dân và cải cách xã hội trong bối cảnh lịch sử, mà đến nay vẫn giữ nguyên tính thời sự, mang ý nghĩa phương pháp luận đối với quá trình phát triển đất nước.
Đồng quan điểm, TS. Trần Đức Cảnh, Quyền Viện trưởng Viện Phan Châu Trinh, nhấn mạnh việc nghiên cứu về chí sĩ Phan Châu Trinh cần đặt trong bối cảnh cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX - giai đoạn đất nước rơi vào khủng hoảng dưới ách thực dân và phong kiến.
Trong hoàn cảnh đó, chí sĩ Phan Châu Trinh đã lựa chọn con đường canh tân xã hội từ bên trong, kiên định với cải cách thay vì bạo động, đồng thời sớm đặt ra các vấn đề về dân chủ, nhân quyền và trách nhiệm công dân. Ảnh hưởng của Phan Châu Trinh không chỉ dừng lại ở tư tưởng mà còn lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội đương thời.
Quang cảnh hội thảo.
Làm rõ hơn giai đoạn cuối đời của chí sĩ, TS. Lê Hữu Phước, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, cho biết cuối năm 1925, dù sức khỏe suy yếu, Phan Châu Trinh vẫn thực hiện hai buổi diễn thuyết quan trọng tại Sài Gòn, mỗi buổi thu hút từ 200 - 300 người.
Trong các buổi diễn thuyết này, Phan Châu Trinh tập trung bàn về đạo đức xã hội và mối quan hệ “quân trị - dân trị”, phê phán chế độ quân chủ và hệ thống luân lý cũ, đồng thời đề cao vai trò của người dân, ý thức công dân và tinh thần dân chủ.
Chỉ ít lâu sau, ngày 24/3/1926, chí sĩ Phan Châu Trinh qua đời tại Sài Gòn. Lễ tang của ông đã thu hút hàng chục nghìn người tham dự, nhiều địa phương trên cả nước cũng tổ chức truy điệu, tạo nên một làn sóng tưởng niệm rộng khắp, được xem như một “quốc tang trong lòng dân”. Chính trong bối cảnh đó, tư tưởng của Phan Châu Trinh tiếp tục lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội.
Những câu trích của Huỳnh Thúc Kháng và Phan Bội Châu về chí sĩ Phan Châu Trinh được trình bày tại hội thảo.
Tại hội thảo, PGS.TS Ngô Văn Minh, nguyên Trưởng khoa Dân tộc và Tôn giáo, Học viện Chính trị khu vực III, nhận định hệ tư tưởng của Phan Châu Trinh là một chỉnh thể mang tính khai sáng, kết hợp giữa giá trị truyền thống và tư tưởng dân chủ phương Tây, tạo nên bước chuyển quan trọng trong đời sống chính trị Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Theo PGS.TS Ngô Văn Minh, điểm cốt lõi trong tư tưởng của chí sĩ là đề cao dân quyền, đặt người dân vào trung tâm đời sống quốc gia với tư cách chủ thể công dân, từ đó hướng tới xóa bỏ chế độ quân chủ chuyên chế, xây dựng xã hội dân chủ và nhà nước pháp quyền.
Trên nền tảng đó, Phan Châu Trinh phát triển hệ tư tưởng với các nội dung trọng tâm như nâng cao dân trí, thực hiện dân quyền, phát huy nội lực và dựa vào sức mạnh quần chúng. Quan niệm “cứu dân trước, cứu nước sau” xuất phát từ thực trạng dân trí thấp, dân khí suy yếu và đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn.
TS. Lê Hữu Phước, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, phát biểu tại Hội thảo.
PGS.TS Ngô Văn Minh nhấn mạnh ba trụ cột trong tư tưởng của chí sĩ là “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, trong đó giáo dục giữ vai trò then chốt. Chủ trương “ỷ Pháp cầu tiến bộ” cần được hiểu là sách lược tạm thời nhằm tận dụng không gian hợp pháp để thúc đẩy cải cách, chứ không phải sự lệ thuộc. Đồng thời, ông cũng không ủng hộ bạo động khi điều kiện chưa chín muồi, do dân trí và dân khí còn hạn chế.
Ở góc độ giáo dục, TS Giản Tư Trung, Viện Giáo dục IRED, cho rằng Phan Châu Trinh là một trong những người khởi xướng tư tưởng “cứu nước phi truyền thống”, với trọng tâm là khai hóa dân tộc thay vì dựa vào bạo động hay ngoại lực.
Đông đảo các nhà nghiên cứu, học giả và công chúng quan tâm đã có mặt tại chương trình.
Theo TS. Giản Tư Trung, trong bối cảnh hiện nay, tinh thần khai hóa cần được hiểu qua hai yếu tố cốt lõi là “tự lực” và “khai phóng”. Tự lực là chủ động phát triển năng lực cá nhân, không ỷ lại; còn khai phóng là mở rộng nhận thức, giải phóng con người khỏi những ràng buộc tư duy.
TS. Giản Tư Trung nhấn mạnh, việc thúc đẩy tinh thần này cần bắt đầu từ mỗi cá nhân thông qua tự học và hoàn thiện bản thân, thay vì chỉ trông chờ vào các cải cách vĩ mô. Di sản lớn nhất mà Phan Châu Trinh để lại chính là tinh thần khai dân trí, hướng tới xây dựng con người tự do, có trách nhiệm và năng lực tự chủ - một gợi mở quan trọng cho đổi mới giáo dục và phát triển con người Việt Nam hiện nay.
Bộ kỷ yếu hai tập do Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh phát hành, gồm: “Phan Châu Trinh - Tư tưởng và tính thực tiễn của thời đại” và “Phan Châu Trinh - Di sản văn hóa và giáo dục truyền thống”.
Dịp này, ban tổ chức cũng giới thiệu bộ kỷ yếu hai tập do Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh phát hành, gồm: “Phan Châu Trinh - Tư tưởng và tính thực tiễn của thời đại” và “Phan Châu Trinh - Di sản văn hóa và giáo dục truyền thống”.
Bộ kỷ yếu tập hợp 65 bài viết của các học giả, nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực như lịch sử, văn hóa học, triết học, giáo dục học và xã hội học. Các công trình tập trung phân tích hệ tư tưởng của Phan Châu Trinh trong bối cảnh hiện đại, làm rõ tác động đối với cải cách giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng xã hội công dân và hội nhập quốc tế trên nền tảng văn hóa, tri thức.