Xác chiếc máy bay E-3 Sentry của Không quân Mỹ nằm trên đường băng tại căn cứ không quân ở Saudi Arabia. Ảnh: Không quân
Theo kênh CNN ngày 30/3, đây là cảnh báo của nhà phân tích quân sự Cedric Leighton, cựu đại tá Không quân Mỹ từng lái máy bay này. Theo ông Leighton, mất chiếc máy bay này giáng một đòn nghiêm trọng đối với năng lực giám sát của Mỹ. Ông nói: “Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng điều khiển máy bay chiến đấu, hướng dẫn các máy bay này đến mục tiêu hoặc bảo vệ trước các cuộc tấn công của máy bay và hệ thống tên lửa đối phương”.
Hình ảnh máy bay E-3 bị phá hủy bắt đầu xuất hiện trên mạng xã hội vào cuối tuần. Hình ảnh chụp chiếc máy bay bị tấn công cho thấy phần đuôi bị gãy và mái radar quay nằm trên mặt đất tại Căn cứ Không quân Prince Sultan. Mái radar quay là phần quan trọng của hệ thống cảnh báo và kiểm soát trên không (AWACS).
AWACS giúp giám sát trên không một diện tích rộng tới 310.800 km² từ mặt đất lên tầng bình lưu và đã là thành phần quan trọng của lực lượng chiến đấu Mỹ trong nhiều thập niên. Đội bay 17 chiếc E-3 và kinh nghiệm sử dụng nhiều năm được các nhà phân tích xem là lợi thế lớn của Mỹ.
Máy bay E-3 là một trung tâm chỉ huy trên không có năng lực mạnh mẽ, đồng thời là nền tảng giám sát. Máy bay này có thể theo dõi khoảng 600 mục tiêu cùng lúc, từ các máy bay, tên lửa, đến các thiết bị bay không người lái cỡ lớn, thậm chí cả xe tăng trên chiến trường.
Nhân sự trên E-3 có thể truyền thông tin đó xuống cho chỉ huy tại chiến trường, các tàu ở biển hoặc về Lầu Năm Góc theo thời gian thực.
Trong khi đó, các nhân viên điều khiển trên AWACS có thể chỉ huy tiêm kích đánh chặn các mối đe dọa đang lao tới hoặc điều máy bay tấn công hỗ trợ quân trên mặt đất đang chịu hỏa lực.
Một báo cáo tháng này của Trung tâm An ninh Mỹ Mới gọi AWACS là “tiền vệ” trên chiến trường, nhanh nhẹn cung cấp thông tin tình huống quan trọng và phối hợp theo thời gian thực, biến các chuyến xuất kích riêng lẻ thành lực lượng áp đảo.
Báo cáo gọi AWACS là tài sản không thể thiếu trong hoạt động quân sự của Mỹ hiện nay và trong tương lai gần.
Ông Peter Layton, cựu sĩ quan Không quân Hoàng gia Australia, nhận định rằng radar trên không làm giảm đáng kể thời gian phát hiện mối đe dọa. Theo ông Layton, trong xung đột hiện nay, chiếc E-3 có thể phát hiện thiết bị bay không người lái Shahed của Iran xuất phát cách 322 km sớm hơn radar trên mặt đất khoảng 85 phút.
Vì di động nên AWACS có thể nhanh chóng di chuyển tới khu vực mới và là mục tiêu khó tấn công hơn radar cố định trên mặt đất.
Ngày 30/3, các nhà phân tích bắt đầu đặt câu hỏi tại sao Mỹ để E-3 rơi vào tính huống dễ bị Iran tấn công. Ông Leighton bình luận: “Người ta thường có những biện pháp đặc biệt để bảo vệ máy bay này khỏi hỏa lực kẻ thù khi đang bay. Đôi khi máy bay có tiêm kích hộ tống và không bao giờ được phép bay qua lãnh thổ thù địch để giữ an toàn”.
Ông Leighton đánh giá vụ E-3 bị phá hủy trên mặt đất là vụ vi phạm nghiêm trọng nỗ lực bảo vệ lực lượng. Theo ông, vụ tấn công có thể cho thấy Iran nhận được trợ giúp trong tấn công các tài sản quan trọng của Mỹ. Ông nói: “Rất có thể Nga đã cung cấp cho Iran tọa độ địa lý và ảnh vệ tinh cho thấy vị trí chính xác”.
Theo bà Kelly Grieco, nghiên cứu viên tại Trung tâm Stimson, cuộc tấn công cho thấy Iran chọn lọc các mục tiêu giá trị cao. Bà chỉ ra các vụ tấn công vào radar và cơ sở thông tin vệ tinh ở các căn cứ Mỹ khác trong khu vực kể từ khi chiến tranh bắt đầu. Bà Grieco viết trên X: “Iran đang nhắm vào radar phát hiện mối đe dọa, máy bay tiếp nhiên liệu duy trì hoạt động cho tiêm kích và AWACS chỉ huy trận chiến. Đây là chiến dịch chống không quân. Phù hợp với những gì Iran thực sự làm được. Và thiệt hại là có thật”.
Các nhà phân tích cũng lưu ý quy mô và số năm phục vụ của đội máy bay E-3 cũng như áp lực từ hoạt động ở Trung Đông.
Máy bay E-3 Sentry của Không quân Mỹ tại Căn cứ Không quân Prince Sultan ngày 11/3/2026. Ảnh: Airbus
E-3 có nguồn cung hạn chế trong đội bay Mỹ, chỉ có 17 chiếc đầu năm nay. Số lượng AWACS này còn ít hơn cả oanh tạc cơ B-2 (20 chiếc). E-3 cũng đã cũ. Chiếc đầu tiên gia nhập đội bay năm 1978 và số lượng đã giảm từ 32 chiếc năm 2015.
Đây là máy bay bốn động cơ, dựa trên khung máy bay Boeing 707 thương mại, chở phi hành đoàn bốn người cùng 13 - 19 chuyên gia tùy thuộc nhiệm vụ cụ thể. Giá của máy bay khoảng 270 triệu USD theo giá năm tài chính 1998, tức khoảng 540 triệu USD hiện nay.
Ngoài Mỹ, Saudi Arabia, Pháp và Chile cũng vận hành E-3. Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) có 14 chiếc.
Không quân Mỹ đang tìm giải pháp thay thế đội bay đã cũ này, nhưng Lầu Năm Góc chưa quyết định loại thay thế mặc dù một số nguyên mẫu đang trong quá trình phát triển.
Hải quân Mỹ vận hành loại máy bay cảnh báo và kiểm soát trên không tương tự nhưng nhỏ hơn. Đó là chiếc E-2 Hawkeye, có thể cất cánh từ tàu sân bay và dùng để giám sát khu vực hoạt động của nhóm tấn công tàu sân bay.
Tuy nhiên, Hawkeye không thể thay thế dễ dàng cho Sentry. Do nhỏ hơn, Hawkeye có ít thành viên phi hành đoàn giám sát chiến trường và là máy cánh quạt thay vì phản lực, nên không thể bay cao bằng Sentry, nghĩa là radar không thể bao phủ nhiều khu vực.