VinaCapital: Nhiều nhà đầu tư chưa hiểu đúng về Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam

Nhiều nhà đầu tư quốc tế vẫn chưa hiểu đúng về mục tiêu của Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam (VIFC).

Thay vì cạnh tranh với các trung tâm tài chính lâu đời, VIFC được kỳ vọng trở thành kênh dẫn vốn phục vụ nhu cầu đầu tư và tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới.

Chú thích ảnh
Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN

Kênh dẫn vốn cho giai đoạn tăng trưởng mới 

Sau hơn 18 tháng kể từ khi được đề xuất, VIFC đã chuyển từ một ý tưởng tham vọng thành hiện thực với lễ ra mắt vào đầu năm 2026. Việc hoàn thiện khung pháp lý trong tháng 6 vừa qua tiếp tục củng cố nền tảng để trung tâm từng bước đi vào vận hành trong thời gian tới.

Theo ông Michael Kokalari, Giám đốc Phân tích Kinh tế Vĩ mô và Nghiên cứu Thị trường của VinaCapital, sự kỳ vọng trong nước là rất lớn, nhưng chưa nhiều chuyên gia tài chính quốc tế thực sự hiểu rõ bản chất, sứ mệnh của VIFC cũng như đánh giá đúng tầm vóc của bước tiến này đối với nền kinh tế Việt Nam. Điều này đã vô tình tạo ra tâm lý hoài nghi trong giới đầu tư quốc tế, khiến họ lầm tưởng rằng Việt Nam đang nỗ lực cạnh tranh trực tiếp với Dubai hay các trung tâm tài chính lâu đời khác.

Trên thực tế, mục tiêu cốt lõi của VIFC là tạo điều kiện thuận lợi hơn để các nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận và rót vốn vào Việt Nam, qua đó cùng chia sẻ lợi ích từ đà tăng trưởng kinh tế của đất nước. Động lực sâu xa cho việc thành lập VIFC bắt nguồn từ nhu cầu vốn đầu tư lớn, ước tính lên tới 1,5 nghìn tỷ USD mà Việt Nam cần huy động trong những năm tới để phục vụ công cuộc cải cách và công nghiệp hóa. 

Điều này hoàn toàn khác với mô hình IFC Dubai. IFC của Dubai chủ yếu đóng vai trò là "nơi trú ẩn" và quản lý gia sản cho giới siêu giàu, hướng tới việc tận dụng các hiệu ứng lan tỏa mang lại giá trị cao từ hệ sinh thái tài chính, chẳng hạn như đội ngũ chuyên gia quản lý quỹ, các hãng luật doanh nghiệp hàng đầu và các dự án bất động sản hạng sang.

Theo ông Michael Kokalari, các trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới thường đảm nhận một trong ba chức năng chính: dẫn vốn trong nước ra nước ngoài, thu hút vốn quốc tế cho nền kinh tế nội địa hoặc trở thành trung tâm quản lý tài sản toàn cầu.

Xét về chức năng kinh tế, VIFC có nhiều điểm tương đồng với New York trong giai đoạn Mỹ đẩy mạnh công nghiệp hóa cuối thế kỷ XIX, khi trung tâm tài chính này đóng vai trò huy động nguồn vốn quốc tế cho các dự án hạ tầng và công nghiệp quy mô lớn.

Tuy nhiên, về mặt thể chế, VIFC lại mang nhiều đặc điểm của Trung tâm Tài chính quốc tế Dubai (DIFC). Trung tâm được thiết kế như một khu vực có cơ chế quản lý và khung pháp lý riêng, với quy mô khoảng 900 ha tại TP. Hồ Chí Minh và 300 ha tại Đà Nẵng.

Trong giai đoạn đầu, VIFC sẽ tập trung xây dựng các trụ cột nền tảng gồm hệ thống ngân hàng thương mại, các công ty quản lý tài sản và thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Đây được xem là các cấu phần quan trọng để khơi thông dòng vốn quốc tế và cung cấp nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế.

Khi các nền tảng này được thiết lập, trung tâm có thể mở rộng sang các lĩnh vực như tài chính xanh, thị trường carbon, tài sản số, tài trợ thương mại, tài chính hàng hải, hàng không, quỹ tín thác bất động sản công nghiệp (REIT) và các sàn giao dịch hàng hóa.

“Lợi ích vĩ mô lớn nhất mà VIFC mang lại cho nền kinh tế Việt Nam là khả năng kéo giảm chi phí vốn. Ở chiều ngược lại, đối với các nhà đầu tư nước ngoài, trung tâm này sẽ cung cấp các sản phẩm tài chính đa dạng hơn, tạo kênh tiếp cận trực tiếp để họ cùng đồng hành và tham gia sâu rộng hơn vào quá trình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam”, ông Michael Kokalari phân tích.

Thành công phụ thuộc vào lộ trình triển khai thận trọng

Theo VinaCapital, bài học quan trọng từ các quốc gia đi trước là Việt Nam nên triển khai VIFC theo một lộ trình thận trọng. Trong giai đoạn đầu, chỉ nên giới hạn ở một nhóm nhỏ các định chế tài chính uy tín, đồng thời tập trung củng cố bộ máy điều hành, năng lực giám sát, phòng chống rửa tiền và tính minh bạch về chủ sở hữu thực hưởng. Song song đó, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh trên bình diện quốc gia, bởi lẽ dù có cơ chế quản lý riêng biệt, rốt cuộc VIFC vẫn có sự tương tác và gắn kết chặt chẽ với nền kinh tế thực bên ngoài.

Bài học từ Trung tâm Tài chính Qatar (QFC) cho thấy việc ưu tiên thu hút ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm trong giai đoạn đầu, sau đó mở rộng sang các dịch vụ pháp lý, tư vấn và quản lý doanh nghiệp có thể tạo ra những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế. Ngược lại, vụ đổ vỡ của quỹ đầu tư Abraaj tại DIFC năm 2018 cũng cho thấy tầm quan trọng của giám sát và quản trị rủi ro.

Theo ông Michael Kokalari, mô hình đáng tham khảo nhất đối với Việt Nam là GIFT-IFSC của Ấn Độ. Tương tự Việt Nam, Ấn Độ xây dựng trung tâm này với mục tiêu thu hút các hoạt động tài chính của doanh nghiệp quay trở lại trong nước và trở thành cửa ngõ dẫn vốn quốc tế vào nền kinh tế.

Từ kinh nghiệm của GIFT, ông Michael Kokalari cho rằng, VIFC cần đặc biệt chú trọng hai yếu tố: xây dựng cơ chế quản lý tập trung, tránh phân tán thẩm quyền giữa nhiều cơ quan; đồng thời phát triển các sản phẩm tài chính theo từng giai đoạn với lộ trình rõ ràng.

VIFC đã chính thức đi vào hoạt động từ tháng 2/2026, trong khi các khung pháp lý trọng yếu vừa được hoàn thiện. Theo VinaCapital, ưu tiên trước mắt là khơi thông dòng vốn thông qua việc cấp phép cho các ngân hàng thương mại hoạt động trong khuôn khổ VIFC. Khi các trụ cột nền tảng như ngân hàng, quản lý quỹ và thị trường trái phiếu doanh nghiệp được hình thành, các lĩnh vực như tài chính hàng không, tài chính hàng hải, tài chính xanh, thị trường carbon, fintech hay tài sản số sẽ có điều kiện phát triển mạnh hơn.

Tuy nhiên, để hiện thực hóa những mục tiêu này, VIFC cần tiếp tục hoàn thiện ba nền tảng cốt lõi gồm: khung pháp lý và cơ chế giải quyết tranh chấp đủ tin cậy; nguồn nhân lực tài chính chất lượng cao; và nguồn cung các dự án, tổ chức phát hành có chất lượng cùng mức độ minh bạch cao. Đây cũng là những điều kiện quan trọng để thu hút các định chế tài chính và nhà đầu tư quốc tế tham gia lâu dài.

Về dài hạn, chuyên gia của VinaCapital cho rằng, VIFC có thể đóng vai trò như một "sandbox" cho các mô hình tài chính mới, từ tài sản số, chứng khoán token hóa đến các ứng dụng AI và blockchain trong lĩnh vực tài chính. Nếu được thử nghiệm thành công, các mô hình này có thể được mở rộng ra toàn bộ nền kinh tế.

"VIFC không chỉ là nơi thu hút dòng vốn mà còn có thể trở thành bệ phóng cho các cải cách tài chính rộng lớn hơn", ông Michael Kokalari nhận định. Theo ông, cách tiếp cận này có nhiều điểm tương đồng với mô hình đặc khu Thâm Quyến của Trung Quốc, nơi các cơ chế mới được thử nghiệm trước khi nhân rộng ra toàn quốc.

Với tư cách là một trong 7 thành viên sáng lập VIFC, VinaCapital cho biết đang phối hợp với các đối tác và Ban điều hành VIFC trong việc xây dựng các quy tắc vận hành, hướng tới mục tiêu tạo thuận lợi tối đa cho nhà đầu tư. Việc Việt Nam triển khai VIFC song song với các nỗ lực cải cách thể chế, phát triển hạ tầng và nâng cấp thị trường vốn sẽ là yếu tố quan trọng giúp trung tâm tài chính này phát huy hiệu quả trong những năm tới.

H.Chung (TTXVN)
Xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế từ cơ chế đặc thù - Bài cuối: Kênh dẫn vốn mới cho doanh nghiệp
Xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế từ cơ chế đặc thù - Bài cuối: Kênh dẫn vốn mới cho doanh nghiệp

Sau câu chuyện thể chế và phân quyền cho TP. Hồ Chí Minh trong phát triển Trung tâm Tài chính quốc tế, vấn đề được cộng đồng doanh nghiệp đặc biệt quan tâm là trung tâm này sẽ mang lại giá trị gì cho nền kinh tế. Theo nhiều chuyên gia, thành công của VIFC-HCMC không nằm ở quy mô vốn thu hút được mà ở khả năng trở thành đầu mối trung chuyển vốn cho doanh nghiệp Việt Nam.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN