Luật Dầu khí (sửa đổi) 'đánh thức' nguồn tài nguyên khó khai thác

Với những chính sách ưu đãi với các mỏ nhỏ, mỏ cận biên, mỏ ở vùng nước sâu, xa bờ và hoạt động khai thác tận thu, Luật Dầu khí (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ “đánh thức” nguồn tài nguyên khó khai thác, gia tăng sản lượng dầu khí, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Chú thích ảnh
Tàu khai thác và cung cấp vật tư thiết bị cho các giàn khoan tại mỏ. Ảnh minh họa: Huy Hùng/TTXVN

Có tiềm năng nhưng khó khai thác

Nghị quyết 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định bảo đảm an ninh năng lượng là nhiệm vụ chiến lược, trong đó dầu khí tiếp tục giữ vai trò là nguồn cung năng lượng sơ cấp đặc biệt quan trọng đối với ngân sách và cân đối vĩ mô. Hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác chính là nền tảng quyết định mức độ tự chủ năng lượng quốc gia.

Tiến sĩ Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam cho biết hiện các mỏ dầu khí chủ lực tại Việt Nam đều được đưa vào khai thác từ 15-30 năm nên đều đang trong giai đoạn cuối chu kỳ, dẫn tới sản lượng khai thác bị suy giảm tự nhiên.  Trong khi đó, các phát hiện dầu khí mới gần đây phần lớn là mỏ cận biên, trữ lượng nhỏ và chi phí khai thác cao. Hoạt động thăm dò tại vùng nước sâu, xa bờ gặp rủi ro địa chất và yếu tố an ninh. Điều này khiến suất sinh lời giảm, trong khi tiêu chuẩn đầu tư toàn cầu ngày càng khắt khe. Nếu không có ưu đãi đủ mạnh, các nguồn tài nguyên này có nguy cơ tiếp tục nằm lại trong lòng đất.

Theo ông Đoàn Văn Thuần, Trưởng phòng Kinh tế và Thị trường, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Quản lý Dầu khí, Viện Dầu khí Việt Nam (VPI), Malaysia đã có 11 thế hệ hợp đồng dầu khí, trong đó có những cơ chế dành riêng cho các mỏ cận biên. Năm 2011, nước này áp dụng hợp đồng dịch vụ rủi ro, với ưu đãi cho các mỏ có trữ lượng dưới 30 triệu thùng, trong đó thuế thu nhập doanh nghiệp giảm từ 38% xuống 25% và miễn thuế xuất khẩu. Các quy định tiếp theo của Malaysia trong năm 2019 và 2020 tiếp tục mở rộng ưu đãi, trong đó phần dành cho chính phủ khoảng 10%, phần còn lại gần như dành cho nhà thầu thu hồi chi phí. Indonesia cũng điều chỉnh chính sách theo hướng tăng phần thu hồi chi phí cho nhà thầu, phù hợp với điều kiện địa chất, kỹ thuật và hiệu quả kinh tế của dự án.

Đối với nâng cao hệ số thu hồi dầu để tận thu tài nguyên, Malaysia, Ấn Độ, Canada và Mỹ đều sử dụng nhiều công cụ như giảm thuế tài nguyên, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc tăng tỷ lệ chi phí được thu hồi, qua đó tạo thêm dư địa kinh tế cho nhà đầu tư triển khai giải pháp công nghệ.

Nhiều ưu đãi cụ thể cho mỏ khó khai thác

Nhìn nhận về Luật Dầu khí (sửa đổi), ông Đoàn Văn Thuần đánh giá trong bối cảnh nhiều mỏ dầu khí hiện hữu bước vào giai đoạn suy giảm sản lượng, hoạt động thăm dò tại vùng nước sâu, xa bờ đối mặt nhiều thách thức, cơ chế riêng cho các mỏ cận biên và công nghệ nâng cao hệ số thu hồi dầu sẽ giúp khai thác triệt để nguồn tài nguyên đã phát hiện và góp phần bảo đảm an ninh năng lượng.

Cùng quan điểm này, Tiến sĩ Phan Ngọc Trung, Trưởng ban Tư vấn - Phản biện Hội Dầu khí Việt Nam nhận định, Luật Dầu khí sửa đổi đã làm rõ khái niệm mỏ dầu khí cận biên và thiết kế khung chính sách ưu đãi riêng cho loại hình dự án này. “Các chính sách này sẽ góp phần tạo điều kiện để những mỏ trước đây không đủ điều kiện phát triển thành các dự án có hiệu quả kinh tế, từ đó tránh lãng phí nguồn tài nguyên còn lại trong các khu vực đã có sẵn hạ tầng khai thác. Đây là cách tiếp cận phù hợp với thông lệ quốc tế, trên cơ sở hài hòa lợi ích giữa quyền lợi Nhà nước và nhà đầu tư, nhằm tận thu tối đa nguồn tài nguyên”, Tiến sĩ Phan Ngọc Trung nhận định.

Trong khi đó, Đại biểu Quốc hội Lê Ngọc Sơn- Chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) nhấn mạnh, Luật Dầu khí (sửa đổi) tạo dư địa phát triển mới; trong đó giúp khai thác hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên hiện có, nhất là những nguồn khó như mỏ nhỏ, mỏ cận biên, khu vực nước sâu, xa bờ; đồng thời nâng cao hệ số thu hồi, kéo dài đời mỏ, qua đó phát huy tốt hơn những nguồn lực đang có.

Theo ưu đãi đầu tư đối với phát triển khai thác mỏ dầu khí cận biên tại Điều 43 của Luật Dầu khí (sửa đổi), mỏ dầu khí cận biên thuộc lô dầu khí thông thường của hợp đồng dầu khí đang có hiệu lực, đến giai đoạn phát triển mỏ mà việc phát triển mỏ dầu khí đó không đạt hiệu quả kinh tế tối thiểu thì nhà thầu được đề xuất hưởng chính sách ưu đãi đầu tư theo khoản 2 Điều 42 của Luật này (Hợp đồng dầu khí đối với lô, mỏ dầu khí được hưởng chính sách ưu đấi đầu tư được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 32%, mức thuế suất thuế xuất khẩu dầu thô là 10% và mức thu hồi chỉ phí tối đa 70% sản lượng dầu khí khai thác được trong năm).

Trường hợp mỏ dầu khí cận biên thuộc lô dầu khí thông thường, lô dầu khí được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư của hợp đồng dầu khỉ đang có hiệu lực, đến giai đoạn phát triển mỏ mà việc phát triển mỏ dầu khí đó không đạt hiệu quả kinh tế tối thiểu theo chính sách ưu đãi đầu tư thì nhà thầu được đề xuất hưởng chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt theo khoản 3 Điều 42 của Luật này (Hợp đồng dầu khí đối với lô, mỏ dầu khí được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25%, mức thuế suất thuế xuất khẩu dầu thô là 5% và mức thu hồi chỉ phí tối đa 80% sản lượng dầu khí khai thác được trong năm).

Trường hợp mỏ dầu khí cận biên thuộc lô dầu khí thông thường, lô dầu khí được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư và lô dầu khí được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt của hợp đồng dầu khí đang có hiệu lực, đến giai đoạn phát triển mỏ mà việc phát triển mỏ dầu khí cận biên không đạt hiệu quả kinh tế tối thiểu theo chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt thì nhà thầu được đề xuất chính sách ưu đãi như sau:

Mức ựu đãi về thuế theo chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt được quy định tại khoản 3 Điều 42 của Luật này; sau khi thực hiện nghĩa vụ thuế tài nguyên và nghĩa vụ thuế xuất khẩu (nếu có), được sử dụng toàn bộ phần dầu khí còn lại để thu hồi chi phí hoạt động dầu khí của mỏ dầu khí đó kể từ thời điểm kế hoạch phát triển mỏ dầu khí được phê duyệt; sau khi thu hồi hết chi phí phát sinh được phép thu hồi và thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định, nhà thầu được hưởng toàn bộ phần dầu khí còn lại.

Trong trường hợp mỏ dầu khí cận biên quy định tại khoản 3 Điều này thuộc lô dầu khí có các mỏ dầu khí khác thì nhà thầu được đề xuất áp dụng chính sách ưu đãi quy định tại khoản 3 Điều này hoặc ưu đãi tăng thệm mức thu hồi chi phí không quá 10% so với mức thu hồi chi phí của hợp đồng dầu khí đang có hiệu lực để thu hồi chi phí cho hoạt động dầu khí của mỏ cận biên.

Anh Nguyễn (TTXVN )
Luật Dầu khí (sửa đổi) thúc đẩy chuỗi giá trị năng lượng mới
Luật Dầu khí (sửa đổi) thúc đẩy chuỗi giá trị năng lượng mới

Với việc được Quốc hội khóa XVI thông qua, Luật Dầu khí (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ thúc đẩy chuỗi giá trị năng lượng mới, nhất là thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) và năng lượng ngoài khơi, từ đó giúp đẩy nhanh quá trình chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN