Theo các chuyên gia, để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam cần nhận diện rõ các động lực tăng trưởng, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển.
Xuất nhập khẩu là một trong những điểm sáng trong bức tranh kinh tế năm 2025. Ảnh: TTXVN
Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng 2 con số khẳng định quyết tâm kiên quyết thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao trong những năm tới; góp phần thực hiện thắng lợi những mục tiêu chiến lược mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.
Quý I/2026, tăng trưởng GDP đạt 7,83% - kết quả được đánh giá tích cực trong bối cảnh kinh tế thế giới đối mặt với nhiều biến động, tác động đến nền kinh tế Việt Nam. Song kết quả tăng trưởng này vẫn thấp hơn nhiều so với mục tiêu đặt ra tại Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026. Cụ thể, để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, Nghị quyết 01/NQ-CP đặt mục tiêu tăng trưởng GDP quý I phải đạt 9,1%; quý II là 9,7%; quý III là 9,9% và quý IV là 10,4% để cả năm đạt mức tăng trưởng 10%.
Theo đó, để đạt mức tăng trưởng 2 con số trong năm 2026 trong bối cảnh quý I/2026 tăng trưởng thấp hơn mục tiêu đề ra, bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho rằng, tăng trưởng quý II/2026 phải đạt mức tăng trưởng GDP là 10,5%; quý III 10,6%; quý IV là 10,74%.
Để đạt được như kịch bản trên là vô cùng thách thức. Kết luận 18-KL/TW Hội nghị lần thứ 2, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV cũng chỉ rõ, bước vào giai đoạn 2026 - 2030, bối cảnh thế giới tiếp tục biến động nhanh, mạnh, khó lường, đặt ra yêu cầu phải củng cố và phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng.
Cũng nói về những thách thức cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong năm 2026 và cả giai đoạn 2026 - 2030, TS. Cấn Văn Lực cho rằng: Tình hình chính trị thế giới phức tạp và có thể tác động sâu rộng đến một nền kinh tế có độ mở lớn, phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, đầu tư nước ngoài và kinh tế đối ngoại như Việt Nam. Bởi vậy, mục tiêu tăng trưởng khoảng 10% trong năm nay là rất thách thức, thậm chí có thể nói là khó khăn.
Nhận định về động lực cho tăng trưởng kinh tế ở mức 2 con số, bà Nguyễn Thị Hương cho rằng, có 5 động lực chủ yếu. Đầu tư công tiếp tục là vốn mồi dẫn dắt năng lực sản xuất dài hạn. Đầu tư công năm 2026 sẽ tập trung vào các siêu dự án hạ tầng như: Sân bay Long Thành, đường sắt cao tốc, cụm đường vành đai, cao tốc, Khu đô thị thể thao Olympic… tạo ra hiệu ứng lan tỏa cực mạnh.
"Đây không chỉ là chi tiêu Chính phủ đơn thuần mà là quá trình tích lũy sản xuất cho nền kinh tế, giúp giảm chi phí logistics, kích thích dòng vốn FDI và đầu tư tư nhân đổ vào các khu vực vệ tinh xung quanh hạ tầng mới" - đại diện Cục Thống kê thông tin.
Bên cạnh đó, tiêu dùng nội địa dự báo sẽ cải thiện nhờ chính sách cải cách tiền lương, chính sách kích cầu tiêu dùng nội địa của các tỉnh, thành phố trên cả nước. Sức mua của thị trường hơn 100 triệu dân được kích hoạt mạnh mẽ sẽ tạo động lực cho các ngành dịch vụ, lưu trú, ăn uống và thương mại điện tử phát triển, đảm bảo vòng xoáy kinh tế nội địa không bị đình trệ khi xuất khẩu gặp khó.
Chính sách tài khóa linh hoạt song hành với chính sách tiền tệ cũng sẽ là công cụ quản trị rủi ro hiệu quả. Việc chủ động sử dụng các công cụ thuế xăng dầu và Quỹ bình ổn giá là "van an toàn" ngăn chặn lạm phát chi phí đẩy. Bằng cách kiềm chế đà tăng của giá năng lượng, Chính phủ trực tiếp hỗ trợ biên lợi nhuận cho doanh nghiệp vận tải và sản xuất, ngăn chặn tác động dây chuyền lên mặt bằng giá cả sinh hoạt, từ đó bảo vệ sức mua của người dân và sự ổn định vĩ mô.
Động lực về công nghệ số và AI sẽ giúp nâng cao năng lực nội tại. Việc ứng dụng AI và tự động hóa không chỉ là xu hướng mà đã trở thành công cụ bắt buộc. Trong bối cảnh giá nguyên liệu đầu vào biến động, công nghệ giúp doanh nghiệp sản xuất chuyển từ thâm dụng lao động sang thâm dụng tri thức, trực tiếp cải thiện chỉ số Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và tạo ra dư địa tăng trưởng mới từ các mô hình kinh doanh số.
Sơ chế sản phẩm cá ngừ xuất khẩu tại nhà máy của Công ty Cổ phần Bá Hải (Đắk Lắk). Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN
Nếu khai thác tối đa lợi thế từ FTA, dư địa trong các ngành công nghiệp xuất khẩu sẽ là động lực cho tăng trưởng. Dư địa không chỉ nằm ở khối lượng đơn hàng mà còn ở khả năng dịch chuyển lên phân khúc cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Tận dụng các FTA và làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng, các ngành mũi nhọn như: điện tử, linh kiện và dệt may xanh sẽ đóng vai trò "đầu kéo" ngoại tệ, giúp ổn định cán cân thanh toán và thúc đẩy sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng ổn định.
Bên cạnh nhận diện rõ những động lực, TS.Cấn Văn Lực cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số, một vấn đề quan trọng khác là cần tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn, rào cản, đặc biệt về thể chế và chính sách. Hiện nay vẫn còn một số lượng lớn các dự án bị ách tắc, tồn đọng. Mặc dù Chính phủ nhiệm kỳ trước đã xử lý được một phần đáng kể, nhưng việc tiếp tục giải quyết dứt điểm các tồn đọng là rất cần thiết nhằm giải phóng nguồn lực cho nền kinh tế, đồng thời củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp đối với quá trình cải cách.
Cuối cùng, cần kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Trong bối cảnh môi trường quốc tế còn nhiều biến động nhanh và khó lường, việc giữ vững ổn định vĩ mô sẽ là nền tảng quan trọng để duy trì tăng trưởng bền vững.