Đặt doanh nghiệp vào trọng tâm phát triển kinh tế số

Sự thay đổi nhanh chóng, liên tục của nền kinh tế số đòi hỏi doanh nghiệp cần có sự linh hoạt, khả năng thích nghi tốt với sự thay đổi để duy trì và tăng cường vị thế trên thị trường.

Kinh tế số là cuộc chơi “sống còn” của doanh nghiệp

Ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết, từ đầu năm nay, ngành công nghiệp gỗ cũng như các ngành dệt may, giày da, thủy sản... đều có tốc độ tăng trưởng giảm. Sự sụt giảm này có yếu tố từ bên ngoài, như thị trường Mỹ hay vấn đề thuế quan. Tuy nhiên, một yếu tố khác là tốc độ chuyển đổi số còn chậm. Cụ thể, việc ứng dụng chuyển đổi số, công nghệ số thành hạ tầng vật chất để tạo động lực tăng trưởng vẫn còn hạn chế.

Kinh tế số hiện nay đã là câu chuyện tồn tại hay không tồn tại. Đến nay, ngành công nghiệp gỗ Việt Nam đã thâm nhập sâu vào thị trường toàn cầu, sản phẩm gỗ đã có mặt tại 167 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Mỹ vẫn chiếm trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu. Song, dù làm nhiều, nhưng biên lợi nhuận của ngành dường như có xu hướng ngày càng thu hẹp.

Chú thích ảnh
Chuyển đổi số trở thành vấn đề sống còn đối với ngành gỗ. Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN

Trước đây, một doanh nghiệp gỗ có thể có biên lợi nhuận khoảng 10 - 15%, nhưng hiện nay, khi thị trường có biến động, các doanh nghiệp phải cầm cự để hòa vốn, thậm chí chấp nhận thua lỗ để duy trì thị trường. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là ngành gỗ đã chuyển đổi số chậm.

Lâu nay, ngành gỗ cơ bản sản xuất theo mô hình OEM, tức gia công theo đơn hàng của khách hàng nước ngoài. Trong khi đó, những khâu như thiết kế, phân phối sản phẩm hay xây dựng thương hiệu mới là những phần chiếm giá trị cao trong chuỗi giá trị của sản phẩm gỗ.

“Như một cái ghế, nếu không làm được thiết kế có thể phải trả cho thiết kế bên ngoài 10 USD mỗi chiếc, trong khi giá bán chỉ khoảng 25 USD. Nếu không có kinh tế số, không có chuyển đổi số, chắc chắn không chuyển sang được ODM, tức là tự thiết kế”, ông Ngô Sỹ Hoài cho biết.

Còn theo ông Bùi Khánh Dũng, Tổng Giám đốc Công ty Musa Pacta, chuyển đổi số và AI là cơ hội vàng cho doanh nghiệp nông nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận trực tiếp công nghệ, cho phép thực hiện các mô hình “từ nông trại đến bàn ăn”, giúp doanh nghiệp siêu nhỏ cũng có thể bán hàng trực tiếp đến người tiêu dùng, cắt giảm chi phí trung gian.

Dẫn ví dụ thực tế về việc chi phí lắp đặt phòng Lab giảm từ 2 tỷ xuống 300 triệu nhờ công nghệ, hay việc ứng dụng IoT giúp giảm nhân sự từ 10 người xuống còn 2 người, trong khi quy mô sản xuất lớn hơn, ông Dũng cho rằng, chuyển đổi số và AI giúp tiết kiệm chi phí đầu tư và vận hành, đồng thời giúp quản trị thông minh khi nâng cao hiệu quả và tính minh bạch trong kinh doanh.

Ông Nguyễn Hữu Thập, Ủy viên Ban Chấp hành VCCI, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang cho rằng, Việt Nam không thiếu khát vọng số, không thiếu công nghệ, càng không thiếu tinh thần sáng tạo của đội ngũ doanh nhân. Điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở thiết bị hay phần mềm mà ở cơ chế biến dữ liệu thành tư liệu sản xuất, công nghệ thành năng suất, sáng kiến thành thị trường và quyết tâm thành kết quả đo đếm được.

Lấy từ thực tiễn Tuyên Quang, chuyển đổi số chỉ có ý nghĩa khi khoảng cách địa lý không còn là khoảng cách cơ hội. Nhìn từ doanh nghiệp có ba điểm nghẽn gốc: Chỉ đưa quy trình cũ lên môi trường số, trong khi hồ sơ vẫn chờ xử lý thì chưa phải cải cách. Dữ liệu còn phân tán manh mún, thiếu chuẩn kết nối và cơ chế chia sẻ rõ ràng. Phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn phải “tự bơi” giữa vô vàn giải pháp, chi phí đầu tư, rủi ro an ninh mạng và thiếu nhân lực số...

Đặt doanh nghiệp làm trọng tâm 

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang được xác định là những động lực chính của mô hình tăng trưởng mới. Nghị quyết 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP.

Theo ông Bùi Trung Nghĩa, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Quyết định 1033/QĐ-TTg về Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030 tiếp tục đặt mục tiêu xây dựng nền kinh tế dựa trên nền tảng số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, qua đó nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng và phát triển bền vững.

Số liệu được lãnh đạo VCCI dẫn từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP năm 2025 ước đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020. Kinh tế số Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng 2 con số trong nhiều năm và vươn lên đứng thứ hai Đông Nam Á. Trong đó, thương mại điện tử chiếm khoảng 2/3 quy mô nền kinh tế số.

Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nằm ở khả năng tiếp cận nguồn lực của doanh nghiệp. Khoảng 98% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong khi nhiều doanh nghiệp còn gặp khó khăn về tín dụng. “Hạn chế về nguồn lực tài chính khiến nhiều doanh nghiệp khó đầu tư máy móc, công nghệ, phần mềm quản trị, dữ liệu số, bảo mật, tự động hóa, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc và ứng dụng trí tuệ nhân tạo”, ông Nghĩa nói.

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (Ban Chính sách, chiến lược Trung ương) cho rằng, thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách tạo động lực tăng trưởng mới, trong đó bao gồm các nhóm chính sách chiến lược cao. Các nhóm chính sách kiến tạo động lực tăng trưởng mới cần được cụ thể hóa thành những văn bản pháp luật, hướng dẫn thi hành. Đồng thời, đảm bảo tâm thế của cơ quan, tổ chức thực thi trong việc sẵn sàng hỗ trợ doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp dễ thực thi chính sách.

Bên cạnh đó, yêu cầu cũng rất quan trọng và cần thiết là sử dụng ngân sách Nhà nước hiệu quả, để trên cơ sở đó huy động hiệu quả nguồn lực xã hội. Đặc biệt, các chính sách thực thi phát triển kinh tế số cần đặt doanh nghiệp vào trọng tâm để việc hỗ trợ hiệu quả.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Hữu Thập đề xuất, cần khơi thông thể chế, kết nối dữ liệu, tiếp sức doanh nghiệp để quá trình chuyển đổi này thành công bằng năm việc làm ngay. Theo ông Thập, cần đưa thể chế đi trước một bước. Các bộ, ngành, địa phương cần rà soát, công khai những quy định đang cản trở dữ liệu, giao dịch điện tử, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây và mô hình kinh doanh mới; xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm, thời hạn xử lý. 

Đặc biệt, cần coi dữ liệu là hạ tầng thiết yếu và nguồn lực chiến lược của nền kinh tế số. Dữ liệu công phải được kết nối, chia sẻ, khai thác có kiểm soát theo nguyên tắc “một lần khai báo - nhiều lần sử dụng”; xác định rõ quyền truy cập, trách nhiệm và giá trị sử dụng. Cùng với đó, cần có “trung tâm hỗ trợ chuyển đổi số”, tư vấn độc lập tại địa phương, danh mục giải pháp đã kiểm chứng và cơ chế đồng tài trợ theo kết quả…

Thu Trang/Báo Tin tức và Dân tộc
Nghị quyết 57-NQ/TW: Sổ đỏ trên VNeID cần nền tảng dữ liệu đất đai chính xác
Nghị quyết 57-NQ/TW: Sổ đỏ trên VNeID cần nền tảng dữ liệu đất đai chính xác

Việc tích hợp thông tin Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên VNeID đang được đẩy mạnh, mở ra khả năng giảm giấy tờ, giảm kê khai và rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính. Để dữ liệu “sổ đỏ” có thể khai thác hiệu quả, TP Hồ Chí Minh đang tập trung số hóa, làm sạch, chuẩn hóa và liên thông dữ liệu đất đai, bảo đảm thông tin đúng thửa đất, đúng chủ sử dụng và chính xác, thống nhất.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN