Đại học Bách khoa Hà Nội sẵn sàng thí điểm các cơ chế mới, mô hình đột phá

Tại Hội nghị sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Đại học Bách khoa Hà Nội đã có 5 kiến nghị quan trọng được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao, cho phép nhà trường triển khai thí điểm, từ đó tổng kết thực tiễn để hoàn thiện cơ chế, chính sách và xem xét nhân rộng trên phạm vi quốc gia.

Chú thích ảnh
Đại học Bách khoa Hà Nội ra mắt Không gian đổi mới sáng tạo liên ngành - một hệ sinh thái sáng tạo tích hợp theo mô hình "Design Factory" chuẩn quốc tế. Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN

Phóng viên TTXVN đã trao đổi với tân Phó Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội Tạ Hải Tùng về lộ trình hiện thực hóa các cơ chế thí điểm, xây dựng Công viên đổi mới sáng tạo (Innovation Park) và tháo gỡ điểm nghẽn để đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trở thành động lực phát triển.

Điểm nghẽn hiện nay không còn là thể chế mà ở khâu thực thi

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhất trí với các đề xuất của Đại học Bách khoa Hà Nội tại Hội nghị sơ kết vừa qua. Theo ông, các kiến nghị này cần được triển khai như thế nào trong thời gian tới?

Các kiến nghị mà Đại học Bách khoa Hà Nội đề xuất đều hướng tới một mục tiêu chung là đưa Nghị quyết 57 nhanh chóng đi vào cuộc sống. Trong đó, kiến nghị đầu tiên về phát triển công nghiệp vật liệu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Công nghiệp vật liệu là nền tảng của quá trình công nghiệp hóa. Từ vật liệu xây dựng, vật liệu chế tạo thiết bị công nghiệp, vật liệu điện tử cho tới các vật liệu phục vụ ngành công nghệ cao, tất cả đều là những lĩnh vực Việt Nam cần làm chủ nếu muốn phát triển bền vững. Đại học Bách khoa Hà Nội có thế mạnh truyền thống ở lĩnh vực này, đặc biệt là luyện kim - một ngành mà chúng tôi vẫn kiên trì đào tạo trong nhiều năm dù có giai đoạn ít được quan tâm.

Hiện nay, đất nước đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, phát triển đường sắt tốc độ cao, công nghiệp ô tô, công nghiệp điện tử, UAV và kinh tế tầm thấp. Những lĩnh vực đó đều cần vật liệu mới và vật liệu chất lượng cao. Vì vậy, nếu được đầu tư bài bản, Đại học Bách khoa Hà Nội sẵn sàng nhận nhiệm vụ xây dựng các trung tâm nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ vật liệu phục vụ các ngành công nghiệp chiến lược của quốc gia.

Đề xuất tiếp theo liên quan đến việc rút ngắn thời gian thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ. Như trong trường hợp của chúng tôi, có những dự án phòng thí nghiệm đã được phê duyệt từ năm ngoái, nhưng nếu thực hiện đầy đủ theo quy trình hiện hành thì có thể phải đến giữa năm sau mới nhận được thiết bị, tức là mất gần hai năm.

Trong lĩnh vực công nghệ, vòng đời của thiết bị có khi chỉ khoảng ba năm. Nếu mất một năm rưỡi đến hai năm để mua sắm thì khi thiết bị được lắp đặt, nguy cơ lạc hậu đã rất cao.

Vì vậy, cơ chế “luồng xanh” được đề xuất phải xác định là không vi phạm luật pháp, mà là rút ngắn thời gian xử lý ở từng khâu để phù hợp với đặc thù của khoa học công nghệ thay đổi từng ngày.

Một kiến nghị khác liên quan đến định giá tài sản trí tuệ và doanh nghiệp spin-off. Khó khăn lớn nhất là Việt Nam còn thiếu chuyên gia và quy trình thực thi đủ rõ ràng. Tài sản trí tuệ do các nhà khoa học tạo ra phải được định giá thì mới có thể chuyển giao, góp vốn thành lập doanh nghiệp hoặc dùng làm cơ sở tiếp cận nguồn vốn. Nếu định giá quá thấp sẽ gây thất thoát; nếu quá cao sẽ cản trở việc thương mại hóa. Chúng tôi mong muốn có cơ chế để những người tham gia định giá được bảo đảm an toàn pháp lý khi thực hiện đúng quy trình.

Đối với doanh nghiệp spin-off từ trường đại học, luật đã cho phép nhưng hướng dẫn cụ thể vẫn chưa rõ ràng: thời gian biệt phái viên chức, chế độ lương thưởng, tỷ lệ sở hữu vốn, cơ chế quản lý… Nếu các quy định này được làm rõ, các nhà khoa học sẽ mạnh dạn hơn trong việc đưa công nghệ ra thị trường.

Bên cạnh đó, gần đây, Nhà nước đã có chủ trương thành lập nhiều quỹ, kể cả quỹ đầu tư mạo hiểm có nguồn vốn của ngân sách nhà nước. Những quỹ này có vai trò rất quan trọng trong hoạt động khoa học công nghệ. Vì đổi mới sáng tạo luôn có rủi ro. Nếu Nhà nước cùng chia sẻ rủi ro với doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ tham gia mạnh mẽ hơn. Kinh nghiệm của các nước phát triển đã thành công trong lĩnh vực này như Singapore, họ hướng tới nhà nước và doanh nghiệp đồng tài trợ. Tức là nếu doanh nghiệp hay các quỹ đầu tư tư nhân tài trợ cho một dự án đổi mới sáng tạo thì nhà nước sẽ đầu tư tương ứng theo cơ chế 50-50%. Điều này vừa hỗ trợ nhà khoa học, vừa tạo sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư.

Hiện nay, phần lớn các quỹ của Nhà nước vẫn ở giai đoạn chuẩn bị, điều quan trọng là phải nhanh chóng đưa các quỹ vào vận hành thực tế.

Theo ông, ở thời điểm hiện nay, đâu là “điểm nghẽn” cần được tháo gỡ sớm nhất để tạo động lực cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo?

Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không còn nằm ở chủ trương hay thể chế, mà nằm ở khâu thực thi. Hơn 1,5 năm qua, Ban Chỉ đạo triển khai Nghị quyết 57 cùng các bộ, ngành, địa phương đã thực hiện khối lượng cải cách thể chế rất lớn. Hơn 40 luật liên quan đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới; hàng trăm nghị định, thông tư cũng được cập nhật.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nhiều đột phá về tư duy từ Nghị quyết, luật và các văn bản hướng dẫn vẫn chưa đến được cấp cơ sở. Việc đưa các thể chế vào cuộc sống luôn là vấn đề khó. Với lĩnh vực mới đòi hỏi cơ quan quản lý nhà nước, các viện, trường, nhà khoa học, doanh nghiệp cùng phải tham gia với tinh thần đột phá, dám làm, dám chịu trách nhiệm và tự chủ trong việc triển khai. Vì vậy, giai đoạn tiếp theo phải chuyển mạnh từ “xây dựng thể chế” sang “hành động đột phá, lan tỏa kết quả”.

Ví dụ, cơ chế sandbox (cơ chế thử nghiệm có kiểm soát) đã được cho phép, nhưng câu hỏi là đơn vị nào dám đứng ra thử nghiệm những mô hình chưa có tiền lệ? Cơ quan quản lý sẽ hỗ trợ như thế nào? Quy trình phê duyệt sẽ được rút ngắn ra sao? Đây chính là những việc cần giải quyết ngay để các kết quả nghiên cứu có thể đi vào thực tiễn.

Xây dựng mô hình Innovation Park kết nối ba nhà

Một nội dung được quan tâm là đề xuất triển khai chương trình đầu tư trọng điểm quốc gia về phát triển Công viên đổi mới sáng tạo (Innovation Park) tại một số đại học hoặc cụm đại học trọng điểm. Đại học Bách khoa Hà Nội dự kiến xây dựng và vận hành mô hình này như thế nào?

Các khu công nghệ cao chính là hạt nhân để phát triển công nghệ chiến lược. Nhìn sang các nước như Hàn Quốc, Trung Quốc, các khu công nghệ cao tạo ra doanh thu hàng trăm, hàng nghìn tỷ USD, không chỉ làm chủ thị trường trong nước mà còn xuất khẩu. Đặc thù của các khu công nghệ cao này là có sự tham gia của các tập đoàn, doanh nghiệp công nghệ, các trường đại học, viện nghiên cứu hàng đầu, có tổ chức trung gian để hỗ trợ, có quỹ đầu tư, có cơ sở vật chất hiện đại, kết nối giao thông thuận tiện.

Việt Nam đã có Khu công nghệ cao Hòa Lạc, Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng hệ sinh thái liên kết vẫn chưa hoàn chỉnh. Các thành phần còn tương đối rời rạc. Vì vậy, đến giai đoạn này, cần quyết liệt triển khai theo các mô hình đã thành công.

Innovation Park mà Đại học Bách khoa Hà Nội đề xuất chính là nơi ba nhà “ngồi với nhau” để hoàn thiện hệ sinh thái từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ, phát triển sản phẩm, đích đến là làm chủ thị trường và xuất khẩu.

Đại học Bách khoa Hà Nội đang tích cực triển khai dự án Cơ sở 2 - Phân hiệu tại Hưng Yên. Dự án này đóng vai trò là một mảnh ghép chiến lược mở rộng không gian đào tạo và nghiên cứu kỹ thuật chất lượng cao. Định hướng của nhà trường tại cơ sở này không chỉ phục vụ mục đích đào tạo mà trở thành một Innovation Park - nơi kết nối chặt chẽ giữa đại học, doanh nghiệp và Nhà nước.

Cụ thể, sẽ hình thành các trung tâm nghiên cứu hỗn hợp do nhà khoa học của trường và chuyên gia doanh nghiệp đồng chủ trì; các trung tâm R&D của doanh nghiệp đặt trực tiếp trong khuôn viên; sinh viên được tham gia thực tập và nghiên cứu ngay trong các dự án thực tế. Đây không phải là mô hình cho thuê đất, mà là mô hình đồng phát triển công nghệ.

Lợi ích của mô hình này rất rõ. Người học có môi trường thực hành chất lượng cao. Nhà khoa học đưa kết quả nghiên cứu trực tiếp tới doanh nghiệp. Doanh nghiệp khai thác được nguồn lực chất xám của trường đại học. Xã hội có thêm các sản phẩm công nghệ do Việt Nam làm chủ.

Quan trọng hơn, mô hình này có thể thu hút các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài trở về làm việc, bởi doanh nghiệp có thể tham gia trả lương và tài trợ nghiên cứu, trong khi đại học cung cấp môi trường học thuật, nghiên cứu sinh và đội ngũ cộng tác.

Về các công nghệ sẽ được tập trung nghiên cứu và ứng dụng, chúng tôi xác định Việt Nam đi sau nên không thể dàn trải. Thay vì cạnh tranh ở những công nghệ lõi mà chỉ vài tập đoàn toàn cầu làm được, cần tập trung vào làm chủ công nghệ và phát triển ứng dụng phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế Việt Nam. Quan trọng cần phát huy lợi thế lớn nhất của nước ta là nguồn nhân lực trẻ và nền tảng STEM ở học sinh phổ thông khá tốt. Nếu tận dụng được lợi thế này, Việt Nam có thể tăng tốc trong các lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao.

Những lĩnh vực được Đại học Bách khoa Hà Nội định hướng tập trung như các công nghệ phục vụ chuyển đổi xanh và môi trường, năng lượng tái tạo, vật liệu tiên tiến, UAV và kinh tế tầm thấp; công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và bán dẫn…

Theo ông, Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp cần phối hợp như thế nào để triển khai hiệu quả mô hình này?

Trước đây, hợp tác đại học - doanh nghiệp ở Việt Nam chưa phát triển mạnh vì phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoạt động trong các ngành thâm dụng lao động và tài nguyên. Nhưng hiện nay, doanh nghiệp đang chuyển hướng sang làm chủ công nghệ và nâng vị trí trong chuỗi cung ứng. Để xây dựng một trung tâm nghiên cứu riêng với hàng trăm tiến sĩ, chi phí có thể lên tới vài trăm tỷ đồng mỗi năm - điều này rất khó đối với nhiều doanh nghiệp.

Trong khi đó, các trường đại học đã có sẵn đội ngũ nghiên cứu. Doanh nghiệp chỉ cần đặt bài toán và ký hợp đồng nghiên cứu hoặc chuyển giao công nghệ. Chi phí sẽ thấp hơn rất nhiều mà vẫn tiếp cận được công nghệ mới.

Ngược lại, đại học cũng cần doanh nghiệp tham gia đào tạo. Trong bối cảnh AI tác động mạnh đến giáo dục, mô hình đào tạo thuần lý thuyết sẽ không còn phù hợp. Sinh viên phải học qua dự án, qua trải nghiệm thực tế và điều đó đòi hỏi sự tham gia trực tiếp của doanh nghiệp.

Nhà nước cũng cần doanh nghiệp và trường đại học, viện nghiên cứu hợp tác để nhanh chóng phát triển hệ sinh thái khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo. Nhà nước sẽ cung cấp vốn mồi để các thành phần hợp tác với nhau chặt chẽ. Từ vốn mồi đó sẽ tạo ra được sản phẩm gia tăng giá trị của hàng hoá Việt Nam, cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Vì vậy, cả nhà nước, doanh nghiệp và nhà trường đều cần sự hợp tác này.

Theo ông, mô hình mà Đại học Bách khoa Hà Nội đề xuất có thể nhân rộng trên toàn quốc không?

Đối với Việt Nam, để phát triển dựa vào khoa học công nghệ chắc chắn phải cần sự tham gia của cả hệ thống, chứ không chỉ riêng Đại học Bách khoa Hà Nội.

Tuy nhiên, nếu nguồn lực hạn chế mà triển khai quá nhiều nơi thì sẽ bị phân tán nguồn lực. Vì vậy, trong giai đoạn này cần lựa chọn một số đơn vị đủ năng lực để thí điểm hướng tới những đại học tinh hoa, những viện nghiên cứu hàng đầu. Sau đó, Nhà nước tổng kết, đánh giá hiệu quả để nhân rộng mô hình phù hợp với Việt Nam. 

Với vai trò đại học kỹ thuật hàng đầu, đa ngành và có mạng lưới cựu sinh viên rất mạnh trong cộng đồng doanh nghiệp, Đại học Bách khoa Hà Nội có điều kiện thuận lợi để thử nghiệm các mô hình mới. Chúng tôi mong muốn trở thành nơi thử nghiệm thể chế, thử nghiệm mô hình hợp tác và tiếp nhận các mô hình thành công từ nước ngoài để triển khai tại Việt Nam. Các nước đi trước đều thành công nhờ đầu tư trọng tâm, trọng điểm vào một số đơn vị đầu đàn. Khi những đơn vị đó bật lên, họ sẽ có sứ mệnh hỗ trợ toàn hệ thống.

Mục tiêu cuối cùng không chỉ là phát triển một trường đại học hay một khu công nghệ cao, mà là xây dựng một hệ sinh thái khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo trình độ cao của Việt Nam tiệm cận chuẩn quốc tế, qua đó góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, đưa đất nước trở thành quốc gia công nghiệp phát triển trong kỷ nguyên mới.

Trân trọng cảm ơn ông.

Việt Hà/TTXVN (thực hiện)
Đại học Bách khoa Hà Nội công bố kết quả phương thức xét tuyển tài năng năm 2026
Đại học Bách khoa Hà Nội công bố kết quả phương thức xét tuyển tài năng năm 2026

Sáng 7/7, Đại học Bách khoa Hà Nội đã công bố kết quả phương thức xét tuyển tài năng năm 2026. Với những đổi mới trong tiêu chí đánh giá, kỳ tuyển sinh năm nay thu hút số lượng lớn thí sinh.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN